|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 314/2023/DS-PT Ngày: 30-8-2023 V/v tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đinh Thị Ngọc Yến |
| Các Thẩm phán: | Ông Trần Tấn Quốc |
| Ông Đặng Văn Những |
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Chiêu Linh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Dung - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 21, 24 và 30 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 176/2023/TLPT-DS ngày 26 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 29/2023/DS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 214/2023/QĐ-PT ngày 11 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Quốc H, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Ấp E, xã L, huyện B, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H: Ông Nguyễn Đạt T, sinh năm 1965.
Địa chỉ: Số F Hậu Giang, phường A, quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Theo Giấy ủy quyền ngày 24/4/2023).
- Bị đơn: Ông Võ Văn L, sinh năm 1964.
Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phạm Mỹ H1, sinh năm 1989.
Địa chỉ: Ấp E, xã L, huyện B, tỉnh Long An.
- Bà Huỳnh Thị B, sinh năm 1964.
Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện B, tỉnh Long An
- Bà Phạm Mỹ H1, sinh năm 1989.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Huỳnh Quốc H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 14/3/2022, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Huỳnh Quốc H do ông Nguyễn Đạt T đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ông Huỳnh Quốc H và ông Võ Văn L ký Hợp đồng cho thuê đất ngày 19/02/2020 để thuê diện tích 50.000m² đất, trên đất đã có chanh của ông L trồng khoảng 04 năm tuổi, thuộc thửa C5-C6 khu C, ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Long An với thời hạn thuê 05 năm tính từ ngày 19/02/2020 đến ngày 19/02/2025, giá thuê mỗi năm 75.000.000 đồng. Tiền thuê đất được trả làm 03 đợt, cụ thể: Đợt 1: ngày ký hợp đồng 19/02/2020 trả 100.000.000 đồng; đợt 2: Ngày 19/02/2021 trả 100.000.000 đồng; đợt 3: Ngày 19/7/2021 trả hết phần còn lại 175.000.000 đồng.
Ông H nhận đất và chanh từ ngày 19/02/2020 và đã thanh toán tiền thuê đất đủ 05 năm là 375.000.000 đồng đúng theo thỏa thuận trong hợp đồng nhưng việc giao nhận tiền ông H giao trực tiếp cho ông L và không lập thành văn bản, không có người làm chứng.
Khoảng ngày 19, 20/02/2022, ông L yêu cầu ông hái chanh lần cuối để trả lại đất cho ông L nhưng ông H không đồng ý chấm dứt hợp đồng thuê vì chưa hết hạn hợp đồng. Ngày 09/3/2022 ông L tự ý lấy lại đất và phá hơn 1 mẫu chanh (đào mương, phá chanh xung quanh phần đất thuê), đến khoảng tháng 5/2022 ông L phá hết chanh trên toàn bộ đất để chuyển sang trồng thơm.
Trong thời gian ông H nhận chanh và đất từ ngày 19/02/2020 đến tháng 10/2021 ông đã đầu tư xịt thuốc, bón phân, thuê công cuốc ụ, cắt tỉa cành... tổng cộng khoảng 811.000.000 đồng (gồm: Thuê công xịt thuốc (2.500.000 đồng/lần), tiền xăng (300.000 đồng/lần), tiền mua thuốc 6.500.000 đồng/lần, tổng cộng mỗi lần xịt thuốc là 9.300.000 đồng, trong 02 năm xịt thuốc 20 lần với tổng số tiền 186.000.000 đồng; tiền phân gà (8.400 bao x (17.000 đồng/bao + công vác, bón phân 3.000 đồng/bao) với tổng số tiền 168.000.000 đồng; chi phí đào mương, hốt mương: 45.000.000 đồng; chi phí thuê nhân công làm cỏ, xịt cỏ và thuốc xịt: 170.000.000 đồng; tiền mua phân hóa học + công bón tổng cộng 150.000.000 đồng; chi phí mua giống chanh con và cuốc ụ chanh con là 47.000.000 đồng; bơm tưới nước: 20.000.000 đồng; cắt tỉa nhánh cây chanh chết: 25.000.000 đồng). Từ sau tháng 10/2021 ông H không đầu tư thêm mà chỉ thu hoạch chanh. Tiền chanh thu hoạch được trong thời gian thuê khoảng 462.000.000 đồng. Như vậy ông H còn thua lỗ chưa thu lại do ông L lấy lại đất là khoảng 349.000.000 đồng.
Theo hợp đồng thuê thỏa thuận thời gian thuê là 05 năm nhưng ông mới sử dụng đất thuê được 02 năm thì ông L đã đơn phương chấm dứt hợp đồng và lấy lại đất là đã vi phạm hợp đồng. Ông H khởi kiện yêu cầu ông L phải có trách nhiệm trả lại cho ông số tiền thuê đất trong thời gian 03 năm ông đã đóng nhưng không được sử dụng là 225.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại số tiền thua lỗ chưa thu lại trong 02 năm thuê đất là 300.000.000 đồng, tổng cộng 525.000.000 đồng.
- Bị đơn ông Võ Văn L trình bày:
Ông và ông H có ký hợp đồng thuê đối với 50.000m² đất trồng chanh như ông H trình bày là đúng. Trong thời gian thuê ông H được quyền sử dụng đất, đầu tư và thu hoạch trái chanh. Nếu có lợi nhuận thì ông H được hưởng, nếu có thua lỗ thì ông H phải chịu. Hợp đồng không có thỏa thuận về trách nhiệm bồi thường do bị lỗ.
Ngày ký hợp đồng ông H giao tiền thuê là 100.000.000 đồng. Theo thỏa thuận thì ngày 19/02/2021 ông H phải giao tiếp 100.000.000 đồng và ngày 19/7/2021 phải giao hết 175.000.000 đồng còn lại nhưng ông H không thanh toán tiền thuê theo thỏa thuận. Tháng 02/2021, ông L nhiều lần yêu cầu ông H thanh toán tiền thuê đất nhưng ông H trả lời do dịch bệnh, làm chanh không có giá nên đề nghị rút ngắn thời hạn thuê thành 02 năm và giao cho ông thêm 50.000.000 đồng nữa. Việc giao tiền không lập thành văn bản và không có người làm chứng.
Đến tháng 02/2022 ông L thông báo cho ông H về việc chấm dứt hợp đồng và yêu cầu trả đất lại và ông H cũng đồng ý nên đã đưa hết máy móc và đồ dùng của ông H đi ra khỏi đất. Đến ngày 09/3/2022 ông L thuê kobe múc xung quanh đất và tháng 5/2022 cải tạo lại toàn bộ đất để trồng thơm. Thời điểm ông lấy lại đất thì trên đất chỉ còn khoảng hơn 100 cây chanh, không thể tiếp tục thu hoạch được nên mới phá chanh trồng thơm.
Nay đối với yêu cầu khởi kiện của ông H thì ông không đồng ý toàn bộ. Ông xác định chỉ nhận tiền thuê đất của ông H là 150.000.000 đồng và ông H đã canh tác trong 2 năm. Do ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê đất nên ông đã thông báo chấm dứt hợp đồng và cho thời gian để ông H hái chanh. Do đó, ông không có trách nhiệm bồi thường số tiền ông H bị thua lỗ trong thời gian thuê. Ông L xác định trong thời gian thuê, ông H có quyền quản lý, sử dụng chanh nên mặc dù khi nhận lại tài sản cho thuê thì cây chanh đã cỗi và chết nhiều nhưng ông L không yêu cầu giải quyết gì đối với ông H.
- Bà Phạm Mỹ H1 trình bày: Bà và ông H là vợ chồng. Số tiền thuê đất và chi phí đầu tư vào đất thuê là tài sản chung vợ chồng. Bà đồng ý một mình chồng bà đứng đơn khởi kiện. Bà hoàn toàn thống nhất với lời trình bày của chồng và không có ý kiến gì thêm.
- Bà Huỳnh Thị B trình bày: Bà và ông L là vợ chồng, quan hệ hôn nhân vẫn còn tồn tại. Đất cho ông H thuê là tài sản chung vợ chồng nhưng bà để một mình chồng bà quyết định việc cho thuê đất. Ông H thuê đất thời hạn 05 (năm) năm nhưng chỉ thanh toán tiền thuê đất được 150.000.000 đồng tương đương thời hạn thuê đất 02 (hai) năm và đề nghị rút ngắn thời hạn thuê. Do đó, việc ông L chấm dứt hợp đồng là đúng nên bà không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An đã tiến hành hòa giải tranh chấp giữa các bên nhưng kết quả không thành.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 29/2023/DS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An đã quyết định:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 244, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ các Điều 428, 472, 483, 488, 490, 492, 493, 584 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Điều 12, Điều 14, khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Quốc H đối với ông Võ Văn L về việc yêu cầu ông Võ Văn L bồi thường 525.000.000 đồng phát sinh từ tranh chấp “hợp đồng thuê đất” ngày 20/02/2020.
- Án phí dân sự sơ thẩm: ông Huỳnh Quốc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật là 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu năm đồng). Khấu trừ 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà ông H đã nộp theo biên lai thu số 0012164 ngày 10/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bến Lức. Ông H còn phải nộp tiếp 17.500.000 đồng (Mười bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền và thời hạn kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án đối với các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/5/2023 nguyên đơn ông Huỳnh Quốc H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm; yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Võ Văn L trả lại cho ông 03 năm tiền thuê đất không được sử dụng, số tiền 225.000.000 đồng và chi phí ông đã đầu tư trên đất và chanh còn thua lỗ khoảng 300.000.000 đồng. Tổng cộng ông Võ Văn L phải trả cho ông 525.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau.
Nguyên đơn ông Huỳnh Quốc H vẫn giữ yêu cầu kháng cáo; yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Võ Văn L phải trả cho ông số tiền 525.000.000 đồng. Trong trường hợp không được chấp nhận toàn bộ thì ông đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc ông L trả lại cho ông một phần chi phí đã đầu tư trên dất, số tiền từ 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.
Bị đơn ông Võ Văn L không đồng ý đối với yêu cầu kháng cáo của ông Huỳnh Quốc H vì ông H chỉ trả tiền thuê đất cho ông 02 năm là 150.000.000 đồng. Trước khi lấy lại đất ông có thông báo miệng cho ông H thời gian 02 tháng để ông H di dời máy móc và ông H đồng ý. Còn tiền đầu tư phân thuốc, nhân công, thì ông H đầu tư trong 02 năm và bán trái đã thu lại tiền rồi. Ông cho ông H thuê đất đã có chanh trồng sẵn, ông H thuê đất vô phân thuốc và bán trái chứ không có đầu tư chanh giống.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị B (vợ ông L) thống nhất với ý kiến của ông L, không đồng ý đối với yêu cầu kháng cáo của ông Huỳnh Quốc H. Do ông H không trả tiền thuê đất tiếp nên vợ chồng bà lấy lại đất.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và các đương sự tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của nguyên đơn được gửi đến Tòa án trong thời hạn luật quy định nên đủ điều kiện để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Về nội dung vụ án: Ngày 19/02/2020, ông H và ông L có ký hợp đồng thuê khoán 50.000m² đất đã có chanh khoảng 4 năm tuổi của ông L với giá thuê 75.000.000 đồng/năm, thời gian thuê 5 năm. Ông H trình bày ông đã nhận đất cùng ngày ký hợp đồng thuê và đã trả đủ cho ông L 375.000.000 đồng làm 03 lần theo thỏa thuận trong Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất. Ông L cho rằng tháng 02/2021 ông H báo trồng chanh thua lỗ nên chỉ trả cho ông có 50.000.000 đồng, cộng 100.000.000 đồng ông H đưa ngày 19/01/2020 là 150.000.000 đồng tương ứng với thời gian thuê 02 năm. Tháng 02/2022 ông L báo với ông H về việc lấy lại đất vì đã hết thời hạn thuê, ông H không đồng ý nhưng cũng không trả tiền thuê đất tiếp. Ông H không cung cấp dược chứng cứ chứng minh đã trả cho ông L 375.000.000 đồng tiền thuê đất cho nên yêu cầu của ông H yêu cầu ông L trả 225.000.000 đồng tiền thuê đất trả trước 03 năm là không có căn cứ chấp nhận.
Về khoản chi phí đầu tư, thuê nhân công trồng chanh trên đất thuê của ông L, ông H trình bày là có cơ sở chấp nhận một phần. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Văn bản số 13/PNN-VP ngày 17/01/2022 của Phòng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thuộc Ủy ban nhân dân huyện B chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông H, sửa một phần bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Huỳnh Quốc H được thực hiện đúng quy định tại Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự và được gửi đến Tòa án trong thời hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Mỹ H1 có đơn xin vắng mặt. Căn cứ Điều 196 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà H1.
[3] Về nội dung vụ án: Ngày 19/02/2020, ông H và ông L ký hợp đồng thuê khoán 50.000m² đất đã có chanh khoảng 4 năm tuổi của ông L với giá thuê 75.000.000 đồng/năm, thời gian thuê 5 năm. Ông H trình bày ông đã nhận đất cùng ngày ký hợp đồng thuê và đã trả đủ cho ông L 375.000.000 đồng làm 03 lần theo thỏa thuận trong Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất. Ông L cho rằng tháng 02/2021 ông H báo trồng chanh thua lỗ nên chỉ trả cho ông có 50.000.000 đồng, cộng 100.000.000 đồng ông H đưa ngày 19/02/2020 là 150.000.000 đồng tương ứng với thời gian thuê 02 năm. Tháng 02/2022 ông L báo với ông H về việc lấy lại đất vì đã hết thời hạn thuê, ông H không đồng ý nhưng cũng không trả tiền thuê đất tiếp. Tháng 3/2022 ông L lấy lại đất và phá toàn bộ chanh trên đất để trồng thơm. Ông H khởi kiện yêu cầu ông L phải có trách nhiệm trả lại cho ông H số tiền thuê đất trong thời gian 03 năm ông đã trả nhưng không được sử dụng là 225.000.000 đồng và bồi thường thiệt hại số tiền thua lỗ chưa thu lại trong 02 năm thuê đất là 300.000.000 đồng, tổng cộng 525.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H, ông H kháng cáo.
[4] Xét kháng cáo của ông Huỳnh Quốc H về việc yêu cầu ông Võ Văn L trả lại 225.000.000 đồng tiền thuê đất đã nhận 03 năm ông chưa sử dụng đất, thấy rằng:
[4.1] Theo nội dung hợp đồng và sự thừa nhận của các bên đương sự thì ông L cho ông H thuê diện tích 50.000m² đất, trên đất đã có chanh của ông L trồng khoảng bốn năm tuổi, thuộc thửa C5-C6, khu C, ấp D, xã T, huyện B, tỉnh Long An; thời hạn thuê 05 năm tính từ ngày 19/02/2020 đến ngày 19/02/2025; giá thuê mỗi năm 75.000.000 đồng. Tiền thuê đất được trả làm 03 đợt, cụ thể: Đợt 1: ngày ký hợp đồng 19/02/2020 trả 100.000.000 đồng; đợt 2: Ngày 19/02/2021 trả 100.000.000 đồng; đợt 3: Ngày 19/7/2021 trả hết phần còn lại 175.000.000 đồng. Trong thời gian thuê, ông H có quyền được đầu tư, chăm sóc và khai thác, hưởng hoa lợi, lợi tức thu được từ cây chanh và đất. Ngày 20/02/2022, ông L thông báo cho ông H việc chấm dứt hợp đồng, cho ông H thu hoạch chanh lần cuối. Ngày 09/3/2022, ông L thuê kobe đào mương xung quanh đất với diện tích khoảng 10.000m², đến tháng 5/2022 ông L phá toàn bộ chanh chuyển sang trồng thơm.
[4.2]. Ông H cho rằng ông L đơn phương chấm dứt hợp đồng và lấy lại đất trước thời hạn là vi phạm hợp đồng. Ông L cho rằng ông H không thanh toán tiền thuê đúng theo thỏa thuận và hai bên có thỏa thuận rút ngắn thời hạn thuê nên ông L chấm dứt hợp đồng thuê là đúng. Thấy rằng, theo thỏa thuận tại hợp đồng thuê đất thì ngày 19/02/2020 thì ông H phải thanh toán tiền thuê đất 100.000.000 đồng; ngày 19/02/2021 ông H phải thanh toán 100.000.000 đồng; ngày 19/7/2021 phải thanh toán 175.000.000 đồng. Ông H cho rằng ông đã trả tiền thuê cho ông L theo thỏa thuận trong hợp đồng là 375.000.000 đồng nhưng ông L chỉ thừa nhận có nhận số tiền 150.000.000 đồng, ông H không cung cấp được chứng cứ chứng minh về việc giao tiền thuê đất đủ 05 năm. Do đó, chỉ có cơ sở xác định số tiền ông H trả cho ông L là 150.000.000 đồng theo sự thừa nhận của ông L. Do ông H đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo hợp đồng nên ngày 19/02/2022 ông L thông báo cho ông H về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng thuê và ngày 09/3/2022 ông L lấy lại đất là phù hợp quy định tại Điều 428 Bộ luật Dân sự 2015.
[4.3]. Theo khoản 3 Điều 428 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện”. Ông L thừa nhận ông H chỉ thanh toán tiền thuê đất là 150.000.000 đồng và đã sử dụng đất từ ngày 19/02/2020 đến 09/3/2022 là đã hoàn thành nghĩa vụ đã thực hiện. Ông H không chứng minh được đã giao đủ số tiền thuê đất 05 năm là 375.000.000 đồng nên yêu cầu của ông H về việc buộc ông L trả lại 225.000.000 đồng tiền thuê đất là không có cơ sở chấp nhận.
[5] Xét kháng cáo của ông Huỳnh Quốc H về việc yêu cầu ông Võ Văn L trả lại chi phí ông H đã đầu tư trên đất và chanh còn thua lỗ 300.000.000 đồng, thấy rằng: Ngày 19/02/2020, ông Võ Văn L và ông Huỳnh Quốc H ký hợp đồng thuê khoán diện tích 50.000m² đất, trên đất đã có chanh khoảng 4 năm tuổi của ông L, thời gian thuê 05 năm, giá thuê 75.000.000 đồng/năm. Hợp đồng thỏa thuận diện tích đất, giá thuê, thời hạn thuê, tiền nhận trước. Hai bên có thỏa thuận “Trong thời gian làm chanh, nếu chủ đất bán hoặc quy hoạch thì phần chanh hưởng một người một nữa”, ngoài ra không có thỏa thuận nào khác. Ông H thuê đất của ông L và đầu tư phân thuốc, nhân công thì khi thu hoạch trái ông H hưởng thành quả đầu tư trên đất, việc ông H bị thua lỗ do chanh không đạt sản lượng hoặc bán không được giá hay vì lý do gì khác không thu lại đủ tiền đã đầu tư trên đất cũng không phải lỗi của ông L. Mặt khác, cây trồng được đầu tư phân thuốc, công chăm sóc ... không phải một lần và sử dụng được cho những năm sau mà phải đầu tư liên tục. Do đó ông H kháng cáo yêu cầu ông L phải hoàn lại số tiền ông đã đầu tư 02 năm bị thua lỗ 300.000.000 đồng là không có căn cứ chấp nhận.
[6] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm về quan điểm giải quyết vụ án có phần không phù hợp nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Huỳnh Quốc H phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Quốc H.
Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 29/2023/DS-ST ngày 28 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 244, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Căn cứ các Điều 428, 472, 483, 488, 490, 492, 493, 584 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Áp dụng Điều 12, Điều 14, khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Quốc H đối với ông Võ Văn L về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất”.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Huỳnh Quốc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu năm đồng). Khấu trừ 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí mà ông H đã nộp theo biên lai thu số 0012164 ngày 10/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức. Ông H còn phải nộp tiếp số tiền 17.500.000 đồng (Mười bảy triệu năm trăm nghìn đồng).
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Huỳnh Quốc H phải chịu 300.000 đồng. Chuyển 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu số 0009813 ngày 04/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An sang thi hành án phí.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Ngọc Yến |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
|
Lương Minh Trí |
Nguyễn Văn Thu |
Đinh Thị Ngọc Yến |
Bản án số 314/2023/DS-PT ngày 30/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
- Số bản án: 314/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Quốc H "Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất" Võ Văn L
