Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 313/2024/HS-ST

Ngày: 21/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tam;

Bà Vương Thị Khánh Loan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trọng Duy - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 321/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 263/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên toà xét xử vụ án số 266/TB-TA ngày 22/5/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Kim D, sinh năm: 1990 tại Thừa Thiên Huế; Giới tính: Nữ; Nơi cư trú: Tổ B, khu phố D, phường T, thành phố phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không, nghề nghiệp: Bán vé số; Trình độ học vấn: lớp 2/12; Con ông Nguyễn Ổ và bà Hoàng Thị V; Gia đình bị cáo có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ 4, có chồng là anh Nguyễn Văn V1 (sinh năm 1983), có 02 con sinh năm 2015 và 2017.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ từ ngày 15/01/2024, đến ngày 22/01/2024. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo D có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào đầu tháng 12 năm 2023, Nguyễn Thị Kim D mở quầy bán vé số (không tên) tại địa chỉ: Tổ A, khu phố D, phường T, thành phố B để bán vé số. Để có thêm tiền tiêu xài, D đã thực hiện hành vi đánh bạc thắng thua bằng hình thức ghi số đề.

Cách thức đánh bạc như sau: Dựa vào kết quả xổ số kết thiết hàng ngày của các tỉnh phía Nam, nếu người mua đề chọn 02 số, trùng với 02 số của giải tám hoặc 02 số cuối của giải đặc biệt hoặc bao 02 số cuối của 18 lô xổ số, thì thắng được số tiền gấp 70 lần số tiền đã mua đề. Nếu người mua đề mua 03 số (xỉu chủ), trùng với 03 số của giải bảy và 03 số cuối của giải đặc biệt hoặc bao 03 số cuối của 17 lô xổ số từ giải bảy đến giải đặc biệt thì thắng được số tiền gấp 500 lần số tiền đã mua đề. Nếu người mua đề mua một cặp hai số đá trùng với 02 số cuối của 18 lô xổ số, thì thắng được số tiền gấp 500 lần số tiền đã mua đề. Nếu người mua đề mua cặp 03 số đá, trùng với 02 số cuối của 18 lô xổ số, thì thắng cược được số tiền gấp 700 lần số tiền đã mua đề... Còn ngược lại, người mua đề chọn những số không trùng với kết quả sổ số thì D được hưởng toàn bộ số tiền của người mua đề.

Người mua đề trực tiếp đến quầy bán vé số địa chỉ trên gặp D để ghi số đề. Dung cắt nhỏ giấy A4, kích thước 6x8cm (gọi là tờ phơ đề) để ghi thông tin ngày bán số, đài xổ số, hình thức mua số, số tiền nhận từ khách sau khi trừ hoa hồng. D sử dụng giấy than sao chép phơ đề ra, khách giữ bản chính còn D giữ bản sao. Để khuyến khích cho người mua đề, D giảm 20% đến 30% trên tổng số tiền cho người mua đề. Sau khi có kết quả xổ số của công ty X, nếu khách trúng sẽ liên hệ trực tiếp với D đưa phơ gốc và D thanh toán tiền cho người mua đề thắng.

Ngày 14/01/2024, dựa vào kết quả xổ số của xổ số kiến thiết tỉnh Tiền Giang (Đài T), xổ số kiến thiết tỉnh Kiên Giang (Đài K) và xổ số kiến thiết Đ (Đài Đ), D đã ghi đề cho khoảng 24 người (không rõ lai lịch) trực tiếp đến mua đề với số tiền thể hiện trên phơ đề là 6.644.500đ (Sáu triệu sáu trăm bốn mươi bốn nghìn năm trăm đồng). Sau khi trừ tiền hoa hồng cho người mua đề, D thu được số tiền 5.413.000đ (Năm triệu bốn trăm mười ba nghìn đồng). Căn cứ kết quả xổ số của Đài T ngày 14/01/2024, người mua đề thắng số tiền 5.250.000đ (Năm triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng). Sau khi trả tiền thắng đề, D thu lợi số tiền 163.000đ (Một trăm sáu mươi ba nghìn đồng).

Ngày 15/01/2024, dựa vào kết quả xổ số của xổ số kiến thiết thành phố H (Đ thành phố Hồ Chí Minh), xổ số kiến thiết tỉnh Đồng Tháp (Đài Đ), D đã ghi đề cho khoảng 14 người (không rõ lai lịch) trực tiếp đến mua đề với tổng số tiền thể hiện trên phơ đề là 4.783.000đ (Bốn triệu bảy trăm tám mươi ba nghìn đồng).

Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, (Khi chưa có kết quả mở thưởng Đài thành phố Hồ Chí Minh và Đài Đ), D đang ghi đề cho Nguyễn Như D1 (sinh năm 1978, nơi cư trú tổ B, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) với số tiền trên phơ 540.000đ (Năm trăm bốn mươi nghìn đồng) thì bị Công an thành phố B phối hợp Công an phường T kiểm tra phát hiện bắt quả tang.

Quá trình điều tra xác định tổng số tiền D ghi đề ngày 15/01/2024 là 5.323.000đ (Năm triệu ba trăm hai mươi ba nghìn đồng). Sau khi trừ tiền khuyến mãi D thu được số tiền 4.168.000đ (Bốn triệu một trăm sáu mươi tám nghìn đồng).

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Thị Kim D đã khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Các vật chứng thu giữ và xử lý gồm:

  • - 12 tờ phơ đề ngày 14/01/2024 (Lưu giữ tại bút lục số 52-75).
  • - 08 tờ phơ đề ngày 15/01/2024 (Lưu giữ tại bút lục số 78-92).
  • - 01 tờ phơ đề ngày 15/01/2024, của Nguyễn Như D1 mua đề của D (Lưu giữ tại bút lục số 76 -77).
  • + Số tiền 5.468.000đ (Năm triệu bốn trăm sáu mươi tám nghìn đồng). Bao gồm: 4.168.000đ (Bốn triệu một trăm sáu mươi tám nghìn đồng) D đã ghi số đề ngày 15/01/0224 và 1.300.000đ (Một triệu ba trăm nghìn đồng) thu lợi từ các ngày ghi số đề trước khi bị bắt (trong đó có 163.000đ (Một trăm sáu mươi ba nghìn đồng) thu lợi bất chính từ việc ghi số đề ngày 14/01/2024).
  • + D tự nguyện giao nộp số tiền 963.000đ (chín trăm sáu mươi ba nghìn đồng) thu lợi bất chính từ việc ghi đề.

Ngoài hành vi phạm tội nêu trên, Nguyễn Thị Kim D khai từ ngày 05/01/2024 đến ngày 13/01/2024, mỗi ngày D ghi số đề cho những người (không rõ nhân thân lai lịch) đến mua vé số, với số tiền khoảng 2.200.000đ (Hai triệu hai trăm nghìn đồng)/01 ngày. Tổng số tiền thu lợi bất chính là 2.263.000đ (Hai triệu hai trăm sáu mươi ba nghìn đồng).

Tại bản Cáo trạng số 247/CT/VKS-BH ngày 22/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim D về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo tội “Đánh bạc” như đã nêu trên.

Do đó đề nghị: áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim D: 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng) đến 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng).

Xử lý vật chứng:

  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Số tiền 6.431.000đ (Sáu triệu bốn trăm ba mươi mốt nghìn đồng) bao gồm: 5.468.000đ (Năm triệu bốn trăm sáu mươi tám nghìn đồng) Nguyễn Thị Kim D ghi số đề và số tiền 963.000đ (Chín trăm sáu mươi ba nghìn đồng) tiền thu lợi bất chính.
  • - Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
  • - Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận tội danh đúng theo cáo trạng đã truy tố, bị cáo ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án:

2.1. Về hành vi của bị cáo bị truy tố:

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Kim D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có tại hồ sơ đã được thu thập trong quá trình điều tra, phù hợp với hành vi của bị cáo đã thực hiện mà Kết luận điều tra cũng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã mô tả.

2.2. Về tội danh và Điều luật áp dụng:

Vào các ngày 14/01/2024 và 15/01/2024, tại quầy bán vé số không tên tại địa chỉ: tổ A, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai của Nguyễn Thị Kim D, dựa vào kết quả xổ số của các đài xổ số kiến thiết các tỉnh phía Nam, D có hành vi hai lần đánh bạc bằng hình thức ghi số đề:

Lần thứ nhất: Ngày 14/01/2024, dựa vào kết quả xổ số của Đài T, Đài K và Đài Đ, D ghi số đề cho khoảng 24 người với tổng số tiền trên phơ và số tiền thắng đề là 11.894.500đ (Mười một triệu tám trăm chín mươi bốn nghìn năm trăm đồng).

Lần thứ hai: Ngày 15/01/2024, dựa vào kết quả xổ số của Đ thành phố Hồ Chí Minh và Đài Đ, D đang ghi số đề cho khoảng 14 người với số tiền trên phơ 4.783.000đ (Bốn triệu bảy trăm tám mươi ba nghìn đồng). Đến khoảng 15 giờ ngày 15/01/2024, (Khi chưa có kết quả mở thưởng Đài thành phố Hồ Chí Minh và Đài Đ), D đang ghi đề cho Nguyễn Như D1 với số tiền trên phơ 540.000đ (Năm trăm bốn mươi nghìn đồng) thì bị Công an thành phố B phối hợp Công an phường T kiểm tra phát hiện bắt giữ. Tổng số tiền D ghi đề ngày 15/01/2024 là 5.323.000đ (Năm triệu ba trăm hai mươi ba nghìn đồng).

Ngoài hành vi phạm tội nêu trên, Nguyễn Thị Kim D khai từ ngày 05/01/2024 đến ngày 13/01/2024, mỗi ngày D ghi số đề cho những người (không rõ nhân thân lai lịch) đến mua vé số, với số tiền khoảng 2.200.000đ (Hai triệu hai trăm nghìn đồng)/01 ngày.

Quá trình đánh bạc, D thu lợi bất chính số tiền là 2.263.000đ (Hai triệu hai trăm sáu mươi ba nghìn đồng).

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Kim D đã đủ căn cứ cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

2.3. Đánh giá tính chất và mức độ thực hiện hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, vì tự lợi cá nhân thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, cần áp dụng mức án nghiêm đối với hành vi phạm tội của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

2.4. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Ngày 14/01/2024, D ghi số đề cho 24 người với tổng số tiền trên phơ và số tiền thắng đề là 11.894.500đ (Mười một triệu tám trăm chín mươi bốn nghìn năm trăm đồng). Ngày 15/01/2024, D ghi đề là 5.323.000đ (Năm triệu ba trăm hai mươi ba nghìn đồng). Như vậy với hai lần ghi để đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm, D bị áp đụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

2.5. Về tình tiết, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra truy tố, xét xử bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo chưa có tiền án tiền sự; Bị cáo phạm tội hai lần nhưng cả hai lần đều là ít nghiêm trọng; Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, có hai con còn nhỏ phải nuôi dưỡng nên phải bán vé số để kiếm sống, có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế, ngoài ra bị cáo đã tự nguyện giao nộp khoản tiền thu lợi bất chính từ việc ghi số đề nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Hình phạt tiền theo quy định tại Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là cũng đã đủ giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung đối với bị cáo.

[3] Về hình phạt bổ sung: Do đã áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên Hội đồng xét xử không áp dụng thêm hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo Điều 32 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 và 48 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Số tiền 6.431.000đ (Sáu triệu bốn trăm ba mươi mốt nghìn đồng) bao gồm: 4.168.000đ D đã ghi số đề ngày 15/01/0224; 1.300.000đ thu lợi từ các ngày ghi số đề trước khi bị bắt (trong đó có 163.000đ thu lợi bất chính từ việc ghi số đề ngày 14/01/2024) và số tiền 963.000đ tiền thu lợi bất chính từ việc ghi đề từ các ngày trước Dung tự nguyện giao nộp.

[5] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật.

[6] Về các vấn đề khác:

  • - Nguyễn Như D1 có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số đề với số tiền 540.000đ (Năm trăm bốn mươi nghìn đồng). D1 chưa có tiền án, tiền sự nên Công an thành phố B đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với D1 là đúng quy định.
  • - Đối với hành vi ghi số đề của Nguyễn Thị Kim D khai từ ngày 05/01/2024 đến ngày 13/01/2024, kết quả điều tra không chứng minh được tổng số tiền D ghi số đề mỗi ngày nên không có căn cứ xử lý là đúng quy định.

[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố biên Hòa tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 35 Bộ luật Hình sự;
  2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Kim D phạm tội “Đánh bạc”.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Kim D số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).

  3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  4. - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: Số tiền 6.431.000đ (Sáu triệu bốn trăm ba mươi mốt nghìn đồng) bao gồm: số tiền D đã ghi số đề ngày 15/01/0224 và số tiền thu lợi bất chính từ việc ghi đề từ các ngày trước (thu giữ được và D tự nguyện giao nộp). Số tiền này hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai theo biên lai thu tiền số 0002223 ngày 23/5/2024.

  5. Về án phí: áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
  6. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Kim D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Thị Kim D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Biên Hòa;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - CQCS điều tra Công an TP Biên Hòa;
  • - Chi cục THADS thành phố Biên Hòa;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nhàn

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

Trần Văn Chánh Nguyễn Thị Kim C

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị N

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 313/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về đánh bạc

  • Số bản án: 313/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Kim D phạm tội “Đánh bạc”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger