Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP


Bản án số: 313/2024/HS-PT

Ngày: 13-12-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Tùng.

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Tuấn Anh;

Ông Lê Khắc Thịnh.

Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:

ông Phạm Minh Trí - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 235/2024/TLPT-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Trần Thị Thúy O. Do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2024/HS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Trần Thị Thúy O, sinh năm 1983, tại Đồng Tháp; nơi thường trú: Tổ 1, ấp D, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nơi ở hiện nay: Ấp A, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Thợ làm tóc; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T, sinh năm 1958 (còn sống) và bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1963 (còn sống); gia đình có 04 chị em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; chồng tên Hà Tấn K, sinh năm 1983; bị cáo có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2007 và nhỏ nhất sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ, tạm giam: không; Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Thị Thúy O: Luật sư Thái Quang T1 – Văn phòng L thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đồng Tháp.

Ngoài ra trong vụ án còn bị hại không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trần Thị Thúy O đăng ký thường trú tại ấp D, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp và làm nghề thợ làm tóc. Bị cáo đến thuê nhà ở ấp A, xã M để ở và mở tiệm tóc mang biển hiệu “Hoài Thương”.

Vào khoảng 12 giờ, ngày 09/02/2024, bà Võ Thị N, sinh năm 1937, trú tại ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp đến tiệm tóc của bị cáo O gọi đầu và làm rơi sợi dây chuyền vàng 18kara, trọng lượng 1,2 lượng có mặt cẩm thạch bọc vàng nhưng cả bà N và bị cáo O đều không phát hiện. Khi bà N ra về, đến khoảng 13 giờ cùng ngày, trong lúc dọn dẹp, bị cáo O phát hiện sợi dây chuyền trên nền gạch, tại thời điểm này bị cáo không xác định được là vàng thật hay giả và của ai đánh rơi. Bị cáo nhặt lấy sợi dây chuyền, để vào túi, sau đó điều khiển xe mô tô biển số 66M1-206.37 đem đến tiệm V ở khóm D, thị trấn M, huyện T đưa cho chị Nguyễn Thị Như N1 kiểm tra. Sau khi biết được là vàng thật, bị cáo O bán cho chị N1 được số tiền 42.200.000 đồng. Số tiền này, bị cáo sử dụng mua mỹ phẩm 15.000.000 đồng, trả tiền thuê nhà 2.000.000 đồng, tiêu xài cá nhân 200.000 đồng, còn lại 25.000.000 đồng bị cáo để vào bên trong cốp xe.

Khi bà N về đến nhà, đến khoảng 14 giờ cùng ngày, chị Nguyễn Thị H1 là con của bà N phát hiện dây chuyền bị mất, nghĩ rơi tại tiệm tóc của bị cáo O nên cùng bà N đến tìm. Khi được hỏi về sợi dây chuyền, bị cáo O biết dây chuyền mình vừa nhặt được đem bán là của bà N đánh rơi nhưng với mục đích chiếm đoạt, bị cáo O trả lời là không thấy dây chuyền rơi ở tiệm của mình. Nghi ngờ bị cáo O đã nhặt được dây chuyền nhưng cố tình không trả lại, chị H1 trình báo sự việc đến Công an xã M. Công an xã M tiến hành làm việc với O thì O thừa nhận hành vi chiếm giữ trái phép tài sản như đã nêu trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 12/KLĐG ngày 22/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận: sợi dây chuyền trọng lượng 1,2 lượng vàng 18kara, kèm mặt cẩm thạch của bà N tại thời điểm bị chiếm giữ trái phép trị giá 49.100.000 đồng.

Về vật chứng, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tạm giữ và xử lý:

  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu AIRBLADE, màu đỏ đen, biển số 66M1-206.37 do anh Hà Tấn K đứng tên chủ sở hữu. Việc bị cáo tự ý lấy xe làm phương tiện đi bán tài sản chiếm giữ trái phép anh K không biết, Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh K.
  • - Tiền Việt Nam 25.000.000 đồng. Đây là số tiền còn lại trong tổng số 42.200.000 đồng bị cáo bán tài sản chiếm giữ có được. Tuy nhiên, hiện bị cáo đã sử dụng tiền cá nhân của mình bồi thường thiệt hại xong cho bị hại N nên Cơ quan điều tra đã trả số tiền 25.000.000 đồng này cho bị cáo O.
  • - 01 đoạn video được trích xuất từ camera tại tiệm V, ghi lại hình ảnh bị cáo Trần Thị Thúy O điều khiển xe mô tô đến bán sợi dây chuyền.

Đối với vật chứng là sợi dây chuyền có mặt cẩm thạch, sau khi mua của bị cáo O, chủ tiệm vàng đã cho vào cùng với các món vàng khác nấu để chế tác lại, nên cơ quan điều tra không thu hồi được.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 43/2024/HS-ST ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 176; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Thúy O phạm tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Thúy O 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 13 tháng 8 năm 2024, bị cáo Trần Thị Thúy O có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm cho rằng cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Thị Thúy O với tội danh, điều khoản của tội danh và mức hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt có cung cấp thêm xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn đang nuôi 3 con nhỏ là lao động chính trong gia đình, bố và mẹ chồng là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến, đây là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự nên có căn cứ để xem xét giảm nhẹ hình phạt một phần hình phạt cho bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Thị Thúy O sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm giảm nhẹ cho bị cáo từ 01 đến 3 tháng tù.

Người bào chữa cho cho bị cáo phát biểu: Bị cáo nhất thời phạm tội chứ không có ý phạm tội, sau khi phạm tội bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và đã khắc phục hoàn toàn hậu quả cho bị hại. Hoàn cảnh gia đình đang khó khăn, bị cáo phải nuôi 03 đứa con còn nhỏ, được bị hại bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo cho bị cáo được hưởng án treo hoặc giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Thị Thúy O đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 12 giờ, ngày 09/02/2024, bà Võ Thị N, sinh năm 1937, trú tại ấp B, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp đến tiệm tóc của bị cáo O gọi đầu và làm rơi sợi dây chuyền vàng 18kara, trọng lượng 1,2 lượng có mặt cẩm thạch bọc vàng. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, trong lúc dọn dẹp, bị cáo O phát hiện sợi dây chuyền trên nền gạch nên điều khiển xe mô tô biển số 66M1-206.37 đem đến tiệm V ở khóm D, thị trấn M, huyện T bán cho chị Nguyễn Thị Như N1 được số tiền 42.200.000 đồng.

[2] Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo Trần Thị Thúy O là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người đã thành niên, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bị cáo nhận thức được việc chiếm hữu trái phép tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện chứng tỏ lỗi của bị cáo là lỗi cố ý và việc thực hiện tội phạm đã hoàn thành.

[3] Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Thị Thúy O về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 176 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt có cung cấp thêm xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn đang nuôi 3 con nhỏ là lao động chính trong gia đình, bố và mẹ chồng là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến, đây là tình tiết giảm nhẹ mới quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cáo của bị cáo Trần Thị Thúy O, sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm đối với bị cáo.

Việc sửa án sơ thẩm là do bị cáo cung cấp thêm tình tiết mới tại cấp phúc thẩm không phải lỗi của cấp sơ thẩm.

[4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Xét lời bào chữa của Luật sư tại phiên tòa là phù hợp một phần nên chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

[6] Do kháng cáo của bị cáo Trần Thị Thúy O được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo luật định.

Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;

  1. Chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Thị Thúy O. Sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 176; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Thúy O phạm tội “Chiếm giữ trái phép tài sản".

Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Thúy O 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo Trần Thị Thúy O không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  1. Các phần khác của quyết định bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC (Vụ GĐKT 1);
  • - VKSND Tỉnh;
  • - Ban nội chính Tỉnh ủy;
  • - Sở Tư pháp Tỉnh;
  • - Cơ quan TNAHS Công an Tỉnh;
  • - TAND huyện Tháp Mười (02 bản);
  • - VKSND huyện Tháp Mười;
  • - Chi cục THADS huyện Tháp Mười ;
  • - Cơ quan CSĐTCA huyện Tháp Mười;
  • - Cơ quanTNAHS CA huyện Tháp Mười ;
  • - Trại tạm giam Công an Tỉnh;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an Tỉnh;
  • - Phòng KTNV-THA Tòa án Tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu VT, HSVA, (Hào).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Minh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 313/2024/HS-PT ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về chiếm giữ trái phép tài sản

  • Số bản án: 313/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Chiếm giữ trái phép tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chiếm giữ tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger