Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 313/2024/HSST

Ngày: 18-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoài.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Vân
  2. Bà Mai Thị Tám

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Chung – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 286/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 312/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh N, sinh ngày 05 tháng 06 năm 2000, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị C, có 01 anh ruột (chết), chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27 tháng 06 năm 2024 đến nay, “có mặt”.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1962; địa chỉ: ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 27 tháng 06 năm 2024, một người thanh niên không rõ lai lịch tên L liên lạc qua số điện thoại 0764.556.xxx của Nguyễn Thanh N hỏi mua 500.000 đồng ma túy thì N đồng ý, cả hai hẹn gặp tại khu vực đường V thuộc Ấp A, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để giao ma túy và nhận tiền. Để có ma túy bán cho L, N liên lạc với một người không rõ lai lịch tên B hỏi mua 400.000 đồng ma túy, N và B thỏa thuận giao ma túy và nhận tiền tại khu vực thuộc Ấp I, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi thỏa thuận với B, N điều khiển xe máy biển số 61P1-9398 đến địa điểm hẹn để gặp B, N đưa cho B 400.000 đồng và nhận lại 02 gói nylon chứa ma túy, sau khi mua được ma túy, N liền điều khiển xe đến địa điểm đã hẹn để bán ma túy cho L, N vừa lái xe, vừa cầm ma túy trong tay trái. Khi đến hẻm A, đường V thuộc Ấp A, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị Công an xã B, huyện C kiểm tra, bắt quả tang N đang tàng trữ 02 gói nylon bên trong chứa ma túy mà N chưa kịp giao cho L.

Qua điều tra, N khai trước đó đã mua ma túy của B hai lần, một lần vào khoảng tháng 5 năm 2024 và một lần vào khoảng tháng 06 năm 2024, mỗi lần mua 400.000 đồng và bán lại cho L với giá 500.000 đồng, mỗi lần thu lợi được 100.000 đồng.

Kết luận giám định số 7862/KL-KTHS ngày 05 tháng 07 năm 2024 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận: Tinh thể được ký hiệu mẫu m cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5379 (không phẩy năm nghìn ba trăm bảy mươi chín) gam, loại Methamphetamine.

Về vật chứng thu giữ: 02 gói nylon bên trong chứa tinh thể được niêm phong trong 01 gói mang số vụ 2419/24 có chữ ký niêm phong của Cán bộ điều tra và Giám định viên; 01 xe máy biển số 61P1-9398, số khung: RLCS5C640AY236781, số máy: 5C64236773 và 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh, số imei: 868958055063952.

Tại bản Cáo trạng số 270/CT-VKS-CC ngày 08 tháng 10 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Thanh N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 251 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy lượng ma túy thu giữ của bị cáo; tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số imei: 868958055063952 và 01 xe máy biển số 61P1-9398, số khung: RLCS5C640AY236781, số máy: 5C64236773.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo N và người mua ma túy của bị cáo khi nào cơ quan cảnh sát điều tra làm rõ được sẽ xử lý sau.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thanh N thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh N khai nhận: bị cáo đã ba lần mua ma túy của đối tượng tên B, lần đầu là khoảng tháng 05 năm 2024, lần thứ hai là tháng 06 năm 2024, mỗi lần mua 400.000 đồng và bán lại cho một người tên L với giá 500.000 đồng, thu lợi mỗi lần 100.000 đồng, lần thứ ba vào ngày 27 tháng 06 năm 2024, bị cáo mua của B 400.000 đồng chất ma túy, đến khoảng 14 giờ cùng ngày tại hẻm A, đường V thuộc Ấp A, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo đang đi giao ma túy cho B thì bị công an phát hiện bắt quả tang, khối lượng ma túy qua giám định là 0,5379 gam, loại Methamphetamine.

Xét thấy, lời khai của bị cáo N phù hợp với kết luận điều tra của cơ quan điều tra Công an huyện C, với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi và phù hợp với Kết luận giám định số 7862/KL-KTHS ngày 05 tháng 07 năm 2024 của Phòng K Công an thành phố H, cùng với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thâm tra tại phiên toà. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, dù biết rõ việc mua bán trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện vì mục đích thu lợi bất chính để có tiền tiêu xài và có ma túy để sử dụng. Hành vi mua bán trái phép 0,5379 gam chất ma túy của bị cáo đã xâm hại đến trật tự quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Vì vậy, đối chiếu với quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thanh N đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, gây hủy hoại sức khỏe của con người, gây mất trật tự xã hội và là nguyên nhân có thể gây ra nhiều tệ nạn và tội phạm khác, song bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo học tập và cải tạo, sau này trở thành người biết tôn trọng pháp luật, đồng thời nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Về hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên quyết định miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[3] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 gói niêm phong mang số vụ 2419/24 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và cán bộ điều tra, xét thấy, đây là chất ma túy Nhà nước cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số imei: 868958055063952 là tài sản của bị cáo dùng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu sung công quỹ nhà nước.

Đối với 01 xe gắn máy hiệu biển số 61P1-9398, số máy: 5C64236773, số khung: RLCS5C640AY236781; qua điều tra xác định chiếc xe trên do ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1962; địa chỉ: ấp T, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương đứng tên chủ sở hữu, năm 2017 ông T đã bán chiếc xe trên cho một người đàn ông (không rõ lai lịch), tháng 03 năm 2024 bị cáo mua lại chiếc xe trên của một người đàn ông (không rõ lai lịch); xét thấy, chiếc xe máy trên có nguồn gốc không rõ ràng, bị cáo khai mua xe máy trên của một người đàn ông nhưng không lập giây tờ mua bán, bị cáo sử dụng xe máy trên làm phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định giao cho Cơ quan thi hành án huyện C đăng báo tìm kiếm chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực, hết thời hạn trên mà chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe không đến liên hệ giải quyết thì tịch thu sung quỹ nhà nước.

Đối với số tiền thu lợi bất chính 200.000 đồng và số tiền 1.200.000 đồng bị cáo dùng để mua ma túy, tại phiên tòa bị cáo tự nguyện nộp lại số tiền này nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Đối với người bán ma túy cho bị cáo và người mua ma túy của bị cáo, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C chưa điều tra làm rõ được lai lịch, nhân thân nên khi nào điều tra được sẽ xử lý sau.

[5] Hội đồng xét xử xét thấy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo Nguyễn Thanh N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, mức hình phạt mà Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh N mức án 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo là ngày 27 tháng 06 năm 2024.

    Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

  2. Áp dụng các Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

    Tịch thu tiêu hủy 02 gói nylon bên trong chứa tinh thể trong 01 gói niêm phong mang số vụ 2419/24 có chữ ký niêm phong của Giám định viên và cán bộ điều tra.

    Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh, số imei: 868958055063952.

    Giao cho Cơ quan thi hành án huyện C đăng báo tìm kiếm chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe gắn máy hiệu biển số 61P1-9398, số máy: 5C64236773, số khung: RLCS5C640AY236781 trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, hết thời hạn trên mà chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe không đến liên hệ giải quyết thì tịch thu sung quỹ nhà nước.

    (Theo phiếu nhập kho vật chứng số 1202/PNK ngày 12 tháng 09 năm 2024).

    Buộc bị cáo Nguyễn Thanh N nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 200.000 đồng và 1.200.000 đồng là tiền dùng vào việc phạm tội, tổng cộng là 1.400.000 đồng (Một triệu bốn trăm nghìn đồng).

  3. Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015: Bị cáo Nguyễn Thanh N có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Kim Hoài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 313/2024/HSST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 313/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger