Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 313/2024/HS-ST

Ngày 24-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Tô Văn Nhung;
  2. Ông Nguyễn Văn Hoàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2024 tại Điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ công an thành phố D xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 331/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 328/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Trương Minh N, sinh năm 1997 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Số H N, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Lớp 9/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Trương Dũng M, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1962; bị cáo có vợ tên Bùi Thị K, sinh năm 1993 và 02 con, lớn sinh năm 2023, nhỏ sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không;

Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 03/7/2024 đến nay (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trương Dũng M, sinh năm 1960; thường trú: Số H N, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 1983 (vắng mặt);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 03/7/2024, Trương Minh N một mình điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda, biển số 53V5-5110, đi từ nhà tại địa chỉ số H, đường N, khu phố T, phường T, thành phố D đến khu vực Ngã tư 550 tìm người bán ma túy để mua. Tại đây, N gặp một người đàn ông tên T (chưa rõ nhân thân, lai lịch) đang đi bộ gần tòa nhà V. N hỏi mua 500.000 đồng ma túy thì T đồng ý và T ngồi lên phía sau xe môtô, N chở T đi một đoạn rồi đưa cho T số tiền 500.000 đồng. T lấy 02 gói nylon hàn kín chứa ma túy bỏ vào túi áo trước bên phải và lấy 01 gói nylon hàn kín chứa ma tuý đá bỏ vào túi áo trước bên trái của N. Sau đó, T nhảy xuống xe bỏ đi, còn N điều khiển xe đi về. Khi đến đoạn đầu đường H trên đường N, khu phố T, phường T (cách nhà của N khoảng 100 mét) thì bị lực lượng Công an thành phố D tuần tra, yêu cầu dừng xe kiểm tra, phát hiện trong túi áo phía trước bên phải có 02 (hai) gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng và trong túi áo phía trước bên trái có 01 (một) gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng. N khai nhận là ma tuý đá N vừa mới mua nên lực lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong tang vật, đưa N cùng xe môtô biển số 53V5-5110 về trụ sở Công an phường T làm việc.

* Kết luận giám định số 3226/KL-KTHS(MT) ngày 10/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận đối tượng giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,7836 gam.

Bản Cáo trạng số 332/CT-VKS-DA ngày 11 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trương Minh N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, trong phần tranh tụng đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo từ 1 năm 6 tháng đến 2 năm tù.

* Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 3226/PC09, bên trong chứa M1=0,4033 gam, M2=0,3803 gam ma túy, loại Methamphetamine là mẫu vật còn lại sau giám định.

Đối với 01 xe mô kiểu dáng Dream, biển số 53V5-5110, số máy LC150FMG112164, số khung LHGYCHL112164. Qua tra cứu xác định do ông Phạm Anh T1, sinh năm: 1972, địa chỉ: 93/1024 đường B phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. Tuy nhiên, hiện ông T1 đã cắt hộ khẩu thường trú bỏ địa phương đi đâu không rõ. N khai xe mô tô trên N mượn của cha là ông Trương Dũng M cho mượn để đi chơi. Qua làm việc ông M trình bày xe môtô trên ông M mua lại xe cũ với giá 2.500.000 đồng vào khoảng tháng 10/2022 nhưng chưa sang tên. Việc N sử dụng xe mô tô trên vào việc phạm tội thì ông M không biết. Cơ quan Cảnh sát điều Công an thành phố D đã đăng báo 03 kỳ liên tiếp vào các ngày 28, 29, 30/8/2024 nhưng đến nay vẫn không ai đến nhận là chủ xe. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều Công an thành phố D đã trả lại xe môtô trên cho ông Trương Dũng M để quản lý, sử dụng.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử lý vật chứng đồng thời trong lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về căn cứ xác định bị cáo phạm tội: Khoảng 11 giờ ngày 03/7/2024 tại đoạn đường đầu hẻm S đường N, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Trương Minh N có hành vi cất giấu 0,7836 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của Trương Minh N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Do đó, Cáo trạng số 332/CT-VKS-DA ngày 11 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát thành phố D, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo cũng như bản luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét trong quá trình tố tụng bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6] Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện ma túy.

[7] Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, bị cáo là người nghiện ma túy, hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng: 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 3226/PC09, bên trong chứa M1 = 0,3808 gam, M2 = 0,3445 gam ma túy, loại Methamphetamine, mẫu vật còn lại sau giám định, là vật cấm lưu thông nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô kiểu dáng Dream, biển số 53V5-5110, số máy LC150FMG112164, số khung LHGYCHL112164. Qua tra cứu xác định do ông Phạm Anh T1, sinh năm: 1972, địa chỉ: 93/1024 đường B phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên chủ sở hữu. N mượn xe của cha là ông Trương Dũng M. Ông M mua lại xe cũ với giá 2.500.000 đồng vào khoảng tháng 10/2022 nhưng chưa sang tên. Việc N sử dụng xe mô tô trên vào việc phạm tội thì ông M không biết. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã đăng báo 03 kỳ liên tiếp vào các ngày 28, 29, 30/8/2024 nhưng không ai đến nhận. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều Công an thành phố D trả lại xe môtô trên cho ông Trương Dũng M là phù hợp.

[9] Đối với đối tượng tên T đã bán ma túy cho N, hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục xác minh, xử lý sau là phù hợp.

[10] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố D, tỉnh Bình Dương đưa ra về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như việc xử lý vật chứng là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận. Về mức hình phạt là nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp hơn Viện kiểm sát đề nghị.

[11] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Trương Minh N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    - Xử phạt bị cáo Trương Minh N 01 (một) năm 3 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/7/2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 89; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
  4. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 3226/PC09, bên trong chứa M1 = 0,3808 gam, M2 = 0,3445 gam ma túy, loại Methamphetamine.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).

  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  6. Bị cáo Trương Minh N phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo (01);
  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - Công an thành phố Dĩ An (01);
  • - Trại giam CA tỉnh Bình Dương (01);
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An (01);
  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - VKSND tỉnh Bình Dương (01);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01);
  • - UBND nơi bị cáo cư trú (02);
  • - Phòng PV 27 CA tỉnh Bình Dương (01);
  • - Phòng PC 81 CA tỉnh Bình Dương (01);
  • - Lưu: VT, HSVA (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Trung Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 313/2024/HS-ST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 313/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trương Minh Nhựt bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An truy tố tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger