TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 313/2025/HS-ST
Ngày: 29/05/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B
TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Tam
Ông Trần Hữu Hậu
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hồng Uyên San – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố B, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Tống Khánh Linh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 05 năm 2025, tại trụ Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 281/2025/TLST-HS ngày 23/04/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 320/2025/QĐXXST-HS ngày 15/05/2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Ngọc H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1971;
Nơi thường trú : Tổ D, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Tổ A, khu phố B, phường T, thành phố B, Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh ; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: lớp 06/12; Nghề nghiệp: Bán vé số. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Họ tên cha: Nguyễn Hữu C (Đã chết). Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T (Đã chết). Gia đình có 07 anh em, bị cáo là con thứ 06; bị cáo sống chung như vợ chồng với ông Nguyễn Ân G, sinh năm 1962 và không có con. Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt để tạm giam từ ngày 20/02/2025 và tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
Bị hại: Đỗ Thanh T1, sinh năm 1970.
Nơi cư trú: Số A, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo có mặt; Bị hại vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 40 phút ngày 07/12/2024, Nguyễn Thị Ngọc H điều khiển xe đạp đi bán vé số tại khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Khi đi đến phòng trọ số G địa chỉ D, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do ông Đỗ Thanh T1 (Sinh năm: 1970, thường trú: 146/9, Khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) thuê trọ, H thấy cửa cổng nhà không khóa, cửa phòng mở hé, nên mở cửa cổng dẫn xe đạp đi vào trong để mời ông T1 mua vé số. Khi mở cửa phòng, H thấy ông T1 đang nằm ngủ trong phòng, trên bàn tivi phía bên tay phải cửa ra vào có đặt số tiền 3.640.000 đồng (Ba triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) và để bóp da của ông T1 đè lên. Lợi dụng lúc ông T1 đang ngủ say, H đi đến dùng tay phải lấy hết số tiền trên rồi cho vào túi áo khoác sau đó dắt xe đạp rời khỏi phòng trọ của ông T1 về hướng đường P thuộc khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, ông T1 thức dậy phát hiện mất số tiền 3.640.000 đồng (Ba triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) nên ngày 08/12/2024, ông T1 đến Công an phường T, thành phố B trình báo sự việc. Quá trình điều tra, truy xét, trích xuất camera xác định Nguyễn Thị Ngọc H có dấu hiệu nghi vấn nên Công an phường T mời Nguyễn Thị Ngọc H về trụ sở Công an phường làm việc. Quá trình làm việc, Nguyễn Thị Ngọc H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên, số tiền chiếm đoạt được, H sử dụng 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) để trả nợ cá nhân, còn lại 640.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi ngàn đồng) H tự nguyện giao nộp cho Công an phường T, thành phố B. Công an phường T lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý theo thẩm quyền.
*Vật chứng vụ án:
- + 01 (Một) xe đạp nhãn hiệu Asama, loại có rổ, màu cam đen là tài sản của H sử dụng làm phương tiện phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tạm giữ, chuyển xử lý cùng vụ án.
- + Số tiền 640.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) tạm giữ từ Nguyễn Thị Ngọc H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại cho ông Đỗ Thanh T1 theo quy định.
- + 01 (Một) USB chứa nội dung vụ án, lưu cùng hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Đỗ Thanh T1 đã nhận lại số tiền 640.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) và được bị cáo H bồi thường số tiền 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng), đồng thời không có yêu cầu bồi thường gì thêm.
2
Tại bản cáo trạng số 312/CT/VKS-BH ngày 23/04/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H mức án từ: 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) tháng tù giam.
Bị cáo tự bào chữa: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi pham tội và thống nhất với nội dung truy tố của bản cáo trạng, ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là hành vi trái với quy định của pháp luật, nên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, lời khai bị hại, người làm chứng có tại hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Xét thấy tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H đã khai nhận: Vào khoảng 13 giờ 40 phút ngày 07/12/2024, bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp số tiền 3.640.000 đồng (Ba triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) của ông Đỗ Thanh T1 tại phòng trọ số G địa chỉ D, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Đến ngày 07/02/2025 thì bị cáo bị khởi tố để điều tra, xử lý.
Lời khai nhận này của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự, như nội dung cáo trạng đã truy tố và bản luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa ngày hôm nay.
[3]. Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp tài sản của người khác là khách thể được pháp luật bảo vệ,
3
gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.
Bản thân bị cáo H là người đã trưởng thành, có nhận thức, có đủ sức khỏe để tạo ra thu nhập nuôi sống bản thân. Nhưng vì muốn có tiền tiêu xài một cách nhanh chóng mà không phải bỏ sức lao động, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản, cố ý thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại. Vì vậy, cần thiết xử phạt bị cáo một mức án đủ nghiêm nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung.
[4]. Tuy nhiên, khi lượng hình phạt, xét thấy quá trình điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo H xét về nhân thân phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả. Đây là những tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết tăng nặng: Không.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Thị Ngọc H đã bồi thường cho ông Đỗ Thanh T1 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng) và ông T1 không yêu cầu bồi thường gì khác nên hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[6]. Về vật chứng vụ án:
- - 01 (Một) xe đạp nhãn hiệu Asama, loại có rổ, màu cam đen là tài sản của H sử dụng làm phương tiện phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tạm giữ, chuyển xử lý cùng vụ án.
- - Số tiền 640.000 đồng (Sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) tạm giữ từ Nguyễn Thị Ngọc H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã trả lại cho ông Đỗ Thanh T1 theo quy định.
[7]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Về áp dụng điều luật: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H mức án 06 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính kể từ ngày 20/2/2025
4
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (Một) xe đạp nhãn hiệu Asama, loại có rổ, màu cam đen là phương tiện bị cáo H sử dụng để phạm tội.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 08/5/2025 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa)
3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Ngọc H phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4.Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Trần Nhàn |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
5
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi ..... giờ .... ngày 11 tháng 7 năm 2018;
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
6
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trần Văn T2 và Ông Trần Hữu H1
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 209/2018/TLST-HS ngày 22 tháng 06 năm 2018 đối với:
Các bị cáo:
- T (tên gọi khác...............); sinh năm 1986; Nơi cư trú: Ấp V, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu.
- Phan Trí H2 (tên gọi khác.......................); sinh năm 1999; Nơi cư trú: ấp L, xã T; thành phố B, tỉnh Đồng Nai
Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Thạch T3 và Phan Trí H2 phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.
2 Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 171; các điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều 17; khoản 1, 3 Điều 57 và Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.
3. Về mức hình phạt:
Xử phạt bị cáo Thạch T3: ....................................................tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/01/2018.
Xử phạt bị cáo Phan Trí H2: ....................................................tù. Thời hạn từ tính từ ngày 26/01/2018.
Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.
4. Về các vấn đề khác:
- - Về trách nhiệm dân sự: Chị Phạm Thị Ngọc L xác định đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- - Về vật chứng vụ án: Đối với 01 chiếc xe mô tô Yamaha biển số 60U7-4138, được hai bị cáo T3 và H2 sử dụng đi cướp giật tài sản, H2 khai mượn của một người tên T4 (chưa rõ lai lịch), Cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa rõ chủ sỡ hữu, Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ để xác minh, xử lý sau.
- - Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
7
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại được quyền kháng cáo trọng hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.
Nghị án kết thúc vào hồi ............ giờ................ phút cùng ngày.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đồng Thị Hồng |
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số:11/2018/HSST-QĐ
Biên Hòa, ngày 12 tháng 3 năm 2018
QUYẾT ĐỊNH
TRẢ HỒ SƠ ĐỂ ĐIỀU TRA BỔ SUNG
8
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:(4)
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đồng Thị Hồng
Các Hội thẩm nhân dân:Ông Trần Văn C3 và bà Nguyễn Thị N
Căn cứ Điều 280 và Điều 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ kết quả việc xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa;
Xét thấy:
- Tại phiên tòa, người bị hại Bùi Quốc T4 và người làm chứng Phạm quốc C4 đều khai khi quay lại hiện trường để gây án bị cáo không đi một mình mà đi cùng hai người khác trên 1 chiếc xe máy. Lời khai này mâu thuẫn với lời khai của bị cáo tại phiên tòa và tại cơ quan điều tra. Mặt khác anh T4 và anh C4 cũng như bị cáo đều xác định quá trình điều tra chưa được đối chất với nhau.
- Chiếc xe bị cáo sử dụng làm phương tiên gây án bị cáo khai tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là đã bán. Tuy nhiên, cơ quan điều tra chưa làm rõ thời điềm bán, khu vực bán và người mua cũng như khả năng thu hồi tài sản này cũng như biện pháp xử lý vật chứng. Lý do tại sao có sự chênh lệch lớn giữa giá bán và giá mua. Có hay không việc bị cáo cố ý tẩu tán tài sản. Do đó, cần trả hồ sơ để làm rõ.
QUYẾT ĐỊNH:
Trả hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 40/2018/TLST-HS ngày 08 tháng 02 năm 2018 đối với bị cáo Trần Văn P (Tên gọi khác: H3); Sinh năm 1989;
Bị truy tố về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999.
Cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa.
Để điều tra bổ sung những vấn đề sau đây:
- Điều tra xác minh, cho đối chất giữa bị hại, những người làm chứng và bị cáo nhằm làm rõ trong vụ án có đồng phạm hay không?
- Xác minh làm rõ cũng như có biện pháp xử lý cụ thể đối với chiếc xe mà bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
9
Bản án số 313/2025/HS-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 313/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BỊ CÁO H CÓ HÀNH VI TRỘM CẮP TS
