TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ——————————— |
Bản án số: 313/2025/DS-PT
Ngày: 26-6-2025
V/v: Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Đức.
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thu Trang;
Ông Phạm Văn Tỉnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Thảo – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 139/2025/TLPT-DS ngày 06 tháng 5 năm 2025 về việc “Đòi tài sản là quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2025/DS-ST ngày 28 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1744/2025/QĐ-PT ngày 20 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
Ban Chỉ huy Quân sự huyện T, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Xuân N, chức vụ: Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự huyện T.
Địa chỉ: ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1982. Địa chỉ: B, Khu phố E, thị trấn M, huyện M, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
- Bị đơn:
Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1974; (Có mặt)
Địa chỉ: Số nhà B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn T1: Luật sư Lê Văn L – Luật sư của Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B. Địa chỉ: A, H, phường A, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ủy ban nhân dân tỉnh B. (Có yêu cầu vắng mặt)
- + Bà Đặng Thị Minh T3, sinh năm: 1975;
- + Anh Nguyễn Đặng Minh T4, sinh ngày 19/7/2003;
- + Anh Nguyễn Đặng Thành T5, sinh ngày 14/7/2007;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Ngọc T2, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ủy ban nhân dân tỉnh B: Ông Phan Hùng C, sinh năm 1981, chức vụ: Phó Trưởng phòng Quản lý đất đai - Đo đạc bản đồ và Viễn thám thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh B), địa chỉ: Số A, Nguyễn Thị Đ, Tổ A, Khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (Có yêu cầu vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số nhà B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo pháp luật của anh Nguyễn Đặng Thành T5: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1974; bà Đặng Thị Minh T3, sinh năm 1975. Cùng địa chỉ: Số nhà B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Đặng Thị Minh T3, anh Nguyễn Đặng Minh T4, Nguyễn Đặng Thành T5: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1974; Địa chỉ: Số nhà B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn T1, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm;
Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn Ban Chỉ huy Quân sự huyện T, tỉnh Bến Tre do ông Đào Xuân N là người đại diện theo pháp luật ủy quyền cho ông Nguyễn Thanh T trình bày:
Ban Chỉ huy Quân sự huyện T, tỉnh Bến Tre được Ủy ban nhân dân tỉnh B giao tổng diện tích đất được quyền sử dụng là 300 ha theo Quyết định giao đất số 552/UB-QĐ ngày 30 tháng 6 năm 1986 của Ủy ban nhân dân tỉnh B (hiện nay diện tích đã được điều chỉnh diện tích sử dụng là 2.680.108,9 m² theo Quyết định số 1952/QĐ-UBND ngày 02 tháng 10 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh B và Quyết định số 4514/QĐ-UBND ngày 25 tháng 11 năm 2015 của Ủy ban nhân dân huyện T) tại ấp F (nay là ấp T), xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre.
Vào khoảng năm 1990, người dân có nhu cầu nhận khoán đất nên Ban Chỉ huy Quân sự huyện có ký Hợp đồng giao nhận khoán đất với một số hộ dân, trong đó có vợ chồng ông Nguyễn Văn T1. Giữa Ban Chỉ huy Quân sự huyện T với ông Nguyễn Văn T1 ký tất cả 02 hợp đồng giao nhận khoán đất. Lần thứ nhất, ký hợp đồng từ ngày 10/9/2016 đến ngày 10/9/2017 ký với ông Nguyễn Văn T1 và vợ ông T1 là bà Đặng Thị Minh T3, hợp đồng này đã kết thúc, không có bồi thường, hỗ trợ tài sản gì. Lần thứ hai, Ban Chỉ huy Quân sự huyện T ký với cá nhân ông T1 Hợp đồng số 33/HĐ-BCH, ngày 10 tháng 9 năm 2017 về việc giao nhận khoán đất nuôi trồng thủy sản diện tích 2,8 ha nay qua đo đạc có diện tích 26.681,9m² thuộc 01 phần thửa đất số 1, tờ bản đồ số 53 (thửa có ký hiệu 1(53)-A1 diện tích 26.661,5m²; 1(53)-A2 diện tích 20,4m²), tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre nhằm mục đích nuôi trồng thủy sản, Hợp đồng có thời hạn 05 năm từ ngày 10/9/2017 đến ngày 10/9/2022. Khi đến thời hạn kết thúc hợp đồng ngày 10/9/2022, Ban Chỉ huy Quân sự huyện T đã tiến hành thanh lý hợp đồng với ông Nguyễn Văn T1. Sau khi ký thanh lý hợp đồng, ông Nguyễn Văn T1 vẫn không thực hiện bàn giao đất cho Ban Chỉ huy Quân sự huyện T.
Ban Chỉ huy Quân sự huyện T đã nhiều lần thông báo đến ông Nguyễn Văn T1 biết để bàn giao đất cho Ban Chỉ huy Quân sự huyện T nhưng ông T1 không thực hiện, cụ thể: Lần 1: Ngày 28/11/2022; Lần 2: Ngày 28/12/2022; Lần 3: Ngày 13/02/2023; Lần 4: Ngày 08/9/2023. Căn cứ Hợp đồng số 33/HĐ-BCH, ngày 10 tháng 9 năm 2017 về việc giao nhận khoán đất nuôi trồng thủy sản đã ký với cá nhân ông Nguyễn Văn T1 có thời hạn 05 năm thì Hợp đồng số 33/HĐ-BCH đã hết thời hạn vào ngày 10 tháng 9 năm 2022.
Nay Ban Chỉ huy Quân sự huyện T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre giải quyết buộc ông Nguyễn Văn T1, bà Đặng Thị Minh T3, ông Nguyễn Đặng Minh T4 và ông Nguyễn Đặng Thành T5 phải tự tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của ông T1 đã xây dựng trên đất để giao trả cho Ban Chỉ huy Quân sự huyện T phần đất có diện tích 26.681,9m² thuộc 01 phần thửa đất số 1, tờ bản đồ số 53 (thửa có ký hiệu 1(53)-A1 diện tích 26.661,5m²; 1(53)-A2 diện tích 20,4m²), tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre, nếu ông T1, bà T3, ông Minh T4, ông Thành T5 không tháo dỡ, di dời tài sản thì Ban Chỉ huy Quân sự huyện T sẽ toàn quyền quyết định về các tài sản trên đất. Ban Chỉ huy Quân sự huyện T không bồi thường, hỗ trợ tài sản có trên đất cho ông Nguyễn Văn T1, bà Đặng Thị Minh T3, ông Nguyễn Đặng Minh T4, ông Nguyễn Đặng Thành T5 vì theo Điều 4 của Hợp đồng giao nhận khoán đất nuôi trồng thủy sản thì không có thỏa thuận bồi thường hỗ trợ. Đồng thời, các tài sản, vật kiến trúc trên đất mà ông T1 đầu tư nhằm mục đích tự phục vụ việc khai thác các nguồn lợi thủy sản có trong vuông nuôi phục vụ nhu cầu cuộc sống cho gia đình ông T1.
Ban Chỉ huy quân sự huyện T đồng ý với kết quả đo đạc, định giá và định giá lại tài sản tranh chấp, không có yêu cầu gì. Về số tiền chi phí tố tụng đã tạm nộp, yêu cầu giải quyết theo quy định pháp luật.
Theo nội dung biên bản lấy lời khai, hoà giải, các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Văn T1 đồng thời là người được người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Minh T3, ông Nguyễn Đặng Minh T4 và ông Nguyễn Đặng Thành T5 ủy quyền trình bày:
Năm 1998, khi ông đi bộ đội về thì ông Nguyễn Văn K là chú ruột của ông có hợp đồng khu đất diện tích 12,8 ha của Ban Chỉ huy Quân sự huyện T, do làm bằng thủ công không có tiền đầu tư hết nên ông K có chia cho ông canh tác 2,8 ha đất, ông là người canh tác đất còn ông K là người ký hợp đồng với Ban Chỉ huy Quân sự huyện T, ông có đưa tiền cho ông K để ông K đóng tiền cho Ban Chỉ huy Quân sự huyện T phần diện tích đất mà ông canh tác. Ông bắt đầu canh tác đất từ năm 1999, cho đến năm 2015 ông mới làm đơn xin tách hợp đồng thuê đất ra, Ban Chỉ huy Quân sự huyện T đồng ý. Sau đó, ông có ký hợp đồng nhận khoán đất nuôi trồng thủy sản với Ban Chỉ huy Quân sự huyện T, tỉnh Bến Tre 02 lần. Lần thứ nhất, ông và vợ ông là Đặng Thị Minh T3 ký với Ban Chỉ huy Quân sự huyện T hợp đồng giao nhận khoán đất diện tích 2,8 ha, giá 1.500.000 đồng/01ha/năm từ ngày 10/9/2016 đến ngày 10/9/2017 với giá 4.200.000 đồng/2,8ha, mỗi năm mỗi đóng tiền. Khi hợp đồng này kết thúc, ngày 10/9/2017, ông ký tiếp với Ban Chỉ huy quân sự huyện T hợp đồng số 33/HĐ-BCH diện tích 2,8 ha đất tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre với giá 1.500.000 đồng/1ha, mỗi năm đóng số tiền 4.200.000 đồng, mục đích để nuôi trồng thủy sản, với thời hạn 05 năm từ ngày 10/9/2017 đến ngày 10/9/2022. Đến ngày 10/9/2022, sau khi hết thời hạn của hợp đồng giao nhận khoán đất nuôi trồng thủy sản số 33/HĐ-BCH, Ban Chỉ huy Quân sự huyện T có thông báo chấm dứt hợp đồng nhưng ông không đồng ý do ông đã đầu tư vào khu đất này rất nhiều tiền mà Ban Chỉ huy Quân sự huyện T không bồi thường, hỗ trợ gì cho ông hết.
Trên đất, ông T1 có làm 01 cái cống vào năm 2007, 01 cái đuôi cống, 02 cái đục, 01 cái bửng cống, 01 cái chòi lá, 02 chiếc xuồng, ngoài ra còn có trồng cây lâu năm như tràm, me, tra từ 05 năm đến 21 năm; xung quanh bờ trồng khoảng 03 công lá dừa nước, 01 cái giếng khoang, có thuê công lao động để đắp bờ vào năm 1999 là 500 công lao động vì lúc nhận đất là đất rừng. 05 năm kế tiếp từ năm 2000 đến năm 2005 mỗi năm thuê 100 lao động làm đất, 05 năm tiếp theo từ 2006 đến năm 2010 mỗi năm thuê 50 lao động làm đất, 10 năm tiếp theo từ năm 2011 đến năm 2020 có thuê kope đắp bờ bao mỗi năm 10 giờ, tổng cộng 100 giờ. Hiện nay ông và vợ con ông là Đặng Thị Minh T3, Nguyễn Đặng Minh T4 và Nguyễn Đặng Thành T5 đang ở và canh tác, sử dụng phần đất đang tranh chấp này.
Nay, Ban Chỉ huy Quân sự huyện T, tỉnh Bến Tre yêu cầu ông cùng vợ, con ông là bà Đặng Thị Minh T3, ông Nguyễn Đặng Minh T4 và ông Nguyễn Đặng Thành T5 giao trả phần đất có diện tích 26.681,9m² thuộc 01 phần thửa đất số 1, tờ bản đồ số 53 (thửa có ký hiệu 1(53)-A1, diện tích 26.661,5 m²; 1(53)-A2 diện tích 20,4 m²), tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre cho Ban Chỉ huy Quân sự huyện T và tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản gắn liền trên đất c2, nếu ông, bà T3, ông Minh T4 và ông Thành T5 không di dời thì Ban Chỉ huy Quân sự huyện sẽ toàn quyền quyết định về các tài sản nêu trên thì ông có ý kiến là đất nhà nước thì ông sẽ trả, nhưng với điều kiện là Ban Chỉ huy Quân sự huyện T phải bồi thường, hỗ trợ chi phí đầu tư, công cải tạo, đắp bờ với số tiền ông bỏ ra là 279.000.000 đồng và bồi thường tài sản trên đất cho ông theo giá do Hội đồng định giá đã định thì ông mới đồng ý giao trả đất cho Ban Chỉ huy Quân sự huyện T. Tuy nhiên, ông không có yêu cầu phản tố gì trong vụ án này, ông chỉ trình bày ý kiến yêu cầu Tòa xem xét, giải quyết cho ông. Đồng thời, Ban Chỉ huy Quân sự huyện T phải có quyết định thu hồi đất để làm công trình gì và giao cho chủ đầu tư là ai để cho ông và người dân biết, hiểu rõ vấn đề này.
Về kết quả đo đạc, định giá tài sản tranh chấp và kết quả định giá lại tài sản tranh chấp thì ông đồng ý, không có yêu cầu gì. Về số tiền chi phí tố tụng, ông yêu cầu giải quyết theo quy định.
Gia đình ông chưa trả đất cho Ban Chỉ huy Quân sự huyện T là do Ban Chỉ huy Quân sự huyện chưa bồi thường, hỗ trợ chi phí mà ông đã bỏ ra để đầu tư, cải tạo đất và tài sản gắn liền trên đất cho ông.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân tỉnh B vắng mặt tại phiên tòa, nhưng theo nội dung Công văn số: 545/UBND-NC, ngày 24/01/2025, Ủy ban nhân dân tỉnh B do ông Trần Ngọc T2 là người đại diện theo pháp luật trình bày:
Việc Ban Chỉ huy Quân sự huyện T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Văn T1, bà Đặng Thị Minh T3, ông Nguyễn Đặng Minh T4 và ông Nguyễn Đặng Thành T5 hoàn trả diện tích 2,8 ha thuộc 01 phần thửa đất số 1, tờ bản đồ số 53, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre cho Ban Chỉ huy Quân sự huyện T và di dời toàn bộ tài sản gắn liền trên đất C2, nếu ông Nguyễn Văn T1, bà Đặng Thị Minh T3, ông Nguyễn Đặng Minh T4 và ông Nguyễn Đặng Thành T5 không di dời thì Ban Chỉ huy quân sự huyện T sẽ toàn quyền quyết định về các tài sản nêu trên là phù hợp với quy định pháp luật. Lý do, phần diện tích 2,8 ha đất nêu trên là của Ban Chỉ huy quân sự huyện T quản lý hợp pháp theo Quyết định số 552/UB-QĐ ngày 30/6/1986 của Ủy ban nhân dân tỉnh B về việc phê duyệt cấp đất cho Ban Chỉ huy quân sự huyện T để xây căn cứ quân sự bảo vệ quốc phòng và để phát triển sản xuất; Quyết định số 1952/QĐ-UBND ngày 02/10/2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh B về việc điều chỉnh Quyết định số 552/QĐ-UB ngày 30/6/1986 của Ủy ban nhân dân tỉnh B về việc phê duyệt cấp đất cho Ban Chỉ huy quân sự huyện T để xây dựng căn cứ quân sự bảo vệ quốc phòng và để phát triển sản xuất. Việc Ban Chỉ huy quân sự huyện T ký Hợp đồng số 33/HĐ-BCH ngày 10/9/2017 với ông Nguyễn Văn T1 về việc giao nhận khoán đất nuôi trồng thủy sản là hợp đồng dân sự trên cơ sở tự nguyện giữa các bên, nếu có phát sinh tranh chấp thì được cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định pháp luật. Trường hợp Nhà nước có nhu cầu sử dụng phần đất nêu trên để phục vụ cho mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế, xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc thu hồi đất và bồi thường theo quy định pháp luật. Do đó, việc Ban Chỉ huy quân sự huyện T tiến hành thanh lý hợp đồng nêu trên và có hỗ trợ tiền cho ông Nguyễn Văn T1, bà Đặng Thị Minh T3, ông Nguyễn Đặng Minh T4 và ông Nguyễn Đặng Thành T5 hay không thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B không ý kiến, các bên căn cứ theo Hợp đồng thực hiện.
Qua khảo sát thực tế tài sản trên phần đất tranh chấp theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ, biên bản định giá tài sản cùng ngày 18/6/2024, biên bản định giá tài sản ngày 22/10/2024, thông báo về việc đính chính biên bản định giá ngày 24/3/2025 như sau: Về đất hiện trạng nuôi trồng thủy sản giá 95.000 đ/m². Về vật kiến trúc: Đối với phần cống chính và đuôi cống bằng bê tông cốt thép tổng chiều dài 16m, rộng 1,6m, bửng cống bằng nhựa compoxít được xây dựng năm 2011, tổng nguyên giá của phần cống, đuôi cống, bửng cống là 80.000.000 đồng, giá trị sử dụng còn lại 50%. Giá trị hiện tại: 80.000.000 đồng x 50% = 40.000.000 đồng; Giếng khoang phi 49, sâu 60m, tỷ lệ sử dụng còn lại 25%, thành tiền: 289.000 đồng x 60m x 25% = 4.335.000 đồng. Về cây trồng: 02 cây me lớn hơn 10 năm tuổi giá 715.000 đồng/cây, thành tiền 1.430.000 đồng; 18 cây tràm bông vàng đường kính gốc nhỏ hơn 20 cm, hỗ trợ chi phí đốn chặt là 38.500 đồng/cây, thành tiền 693.000 đồng; 150 cây tràm bông vàng đường kính gốc nhỏ hơn 5cm, hỗ trợ chi phí đốn chặt 11.000 đồng/cây, thành tiền 1.650.000 đồng; 10 cây tra đường kính gốc nhỏ hơn 10 cm, hỗ trợ chi phí đốn chặt 16.500 đồng/cây, thành tiền 165.000 đồng; 3000 m² lá dừa nước giá là 6.600 đồng/m², thành tiền 19.800.000 đồng. Về công đắp bờ do không có cơ sở định giá nên Hội đồng định giá không xem xét.
Ngoài ra, trên phần đất tranh chấp còn có các cây bần tự mọc, các đương sự không yêu cầu xem xét thẩm định, định giá cũng như giải quyết đối với các cây bần này ai sử dụng đất thì sử dụng các cây bần trên đất; 01 cái chòi lá để che cống ngang 04m, dài 04m, diện tích 16m², tỷ lệ sử dụng còn lại 15%, đơn giá 197.000 đồng/m², thành tiền: 197.000 đồng/m² x 16m² x 15% = 473.000 đồng, do căn chòi lá đã cũ, giá trị còn lại thấp, các bên đương sự thống nhất không yêu cầu ghi nhận phần tài sản là căn chòi lá này trong biên bản xem xét thẩm định chỗ và biên bản định giá tài sản, không yêu cầu giải quyết đối với căn chòi lá này.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 52/2025/DS-ST ngày 28 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre đã tuyên:
Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, 147, 157, 158, 165, Điều 228, 235, 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 158, khoản 2 Điều 165, 166 Bộ luật Dân sự; Điều 26, 166, 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 26, 31, 236 Luật đất đai năm 2024.
Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ban Chỉ huy Quân sự huyện T, tỉnh Bến Tre. Buộc ông Nguyễn Văn T1, bà Đặng Thị Minh T3, ông Nguyễn Đặng Minh T4 và ông Nguyễn Đặng Thành T5 có nghĩa vụ giao trả cho Ban Chỉ huy Quân sự huyện T, tỉnh Bến Tre phần đất có diện tích 26.681,9m² thuộc 01 phần thửa đất số 1, tờ bản đồ số 53 (thửa có ký hiệu 1(53)-A1 diện tích 26.661,5m²; 1(53)-A2 diện tích 20,4m²), tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (có họa đồ kèm theo).
Buộc ông Nguyễn Văn T1, bà Đặng Thị Minh T3, ông Nguyễn Đặng Minh T4 và ông Nguyễn Đặng Thành T5 tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản trên đất gồm cống chính, đuôi cống, bửng cống, chòi lá, giếng khoang phi 49 và di dời cây trồng trên đất gồm 02 cây me, 18 cây tràm bông vàng đường kính gốc nhỏ hơn 20 cm, 150 cây tràm bông vàng đường kính gốc nhỏ hơn 5cm, 10 cây tra đường kính gốc nhỏ 10 cm, 3000m² là dừa nước giá theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và biên bản định giá tài sản ngày 18/6/2024, biên bản định giá tài sản ngày 22/10/2024, thông báo về việc đính chính biên bản định giá ngày 24/3/2025 để trả đất lại cho Ban Chỉ huy quân sự huyện T, tỉnh Bến Tre. Nếu ông Nguyễn Văn T1, bà Đặng Thị Minh T3, ông Nguyễn Đặng Minh T4 và ông Nguyễn Đặng Thành T5 không tháo dỡ, di dời tài sản trên đất thì sẽ bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định.
Ban Chỉ huy Quân sự huyện T, tỉnh Bến Tre được sử dụng các cây bần trên phần đất có diện tích 26.681,9m².
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 09/4/2025, ông Nguyễn Văn T1 có đơn kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T1.
Ngày 21/4/2025, ông Nguyễn Văn T1 có văn bản trình bày ý kiến làm rõ nội dung yêu cầu kháng cáo yêu cầu Ban Chỉ huy quân sự huyện T bồi thường tiền thiệt hại như sau:
- + Về vật kiến trúc: Cống chính và đuôi cống: 40.000.000 đồng; Giếng khoan: 4.335.000 đồng; Cây trồng các loại và lá dừa nước: 23.738.000 đồng.
- + C1 đắp bờ bao từ năm 1999 đến nay: 279.000.000 đồng.
- + Tiền công giữ đất theo giá đã định là 95.000 đồng/m². Tổng cộng 95.000 đồng/m² x 26,681.9 m² = 2.534.780.500 đồng. Ông T1 yêu cầu cho gia đình ông T1 được hưởng theo phần trăm công giữ đất.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn là ông Lê Văn L trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn, sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc Ban Chỉ huy quân sự huyện T bồi thường cho ông T1 giá trị vật kiến trúc, cây trồng, công đắp bờ là 347.073.000 đồng.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày: Không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn T1, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định của pháp luật tố tụng.
- Về nội dung: Căn cứ quy định khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn Nguyễn Văn T1; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các đương sự, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn T1, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Bị đơn Nguyễn Văn T1 kháng cáo, thực hiện các thủ tục kháng cáo hợp lệ và trong thời hạn luật định nên yêu cầu kháng cáo được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Tại phiên toà phúc thẩm, Ủy ban nhân dân tỉnh B có văn bản số 3871/UBND-NC ngày 25/5/2025 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B đề nghị xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân tỉnh B. Căn cứ quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt Ủy ban nhân dân tỉnh B.
[2] Về nội dung: Ông T1 kháng cáo yêu cầu Ban Chỉ huy quân sự huyện T, tỉnh Bến Tre bồi thường tiền thiệt hại về vật kiến trúc trên đất gồm cống chính, đuôi cống trị giá: 40.000.000 đồng; giếng khoan trị giá: 4.335.000 đồng; giá trị cây trồng các loại và lá dừa nước là 23.738.000 đồng; tiền công đắp bờ bao từ năm 1999 đến nay là 279.000.000 đồng; tổng là 347.073.000 đồng. Đối với tiền công giữ đất theo giá đã định 95.000 đồng/m² x 26,681.9 m² là 2.534.780.500 đồng thì ông T1 yêu cầu được hưởng tính theo phần trăm công giữ đất.
Xét kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Ban Chỉ huy Quân sự huyện T, tỉnh Bến Tre yêu cầu ông Nguyễn Văn T1, bà Đặng Thị Minh T3, ông Nguyễn Đặng Minh T4, ông Nguyễn Đặng Thành T5 tự tháo dỡ, di dời tài sản trên đất để giao trả đất có diện tích 26.681,9m² thuộc 01 phần thửa đất số 1, tờ bản đồ số 53 (thửa có ký hiệu 1(53)-A1 diện tích 26.661,5m²; 1(53)-A2 diện tích 20,4m²), tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre mà không đồng ý bồi thường, hỗ trợ đối với tài sản trên đất (gồm cống, giếng khoan, cây trồng), công đắp bờ và công giữ đất theo yêu cầu của ông T1.
Về nội dung này, căn cứ Điều 4 Hợp đồng giao nhận khoán đất nuôi trồng thủy sản số 33/HĐ-BCH ngày 10/9/2017 giữa Ban Chỉ huy Quân sự huyện T và ông Nguyễn Văn T1 có nội dung: “Bên B có trách nhiệm quản lý, diện tích đã được khoản không vi phạm môi trường bất cứ hình thức nào theo quy định của Nhà nước, không được chuyển nhượng cho đối tượng khác bất cứ hình thức nào và bơm cát khi chưa có ý kiến của bên A”. Theo khoản 2, khoản 6 Điều 3 Quy chế hoạt động của Ban quản lý Nông trại ban hành kèm theo Quyết định số 419/QĐ-BCH ngày 27 tháng 5 năm 2014 của Ban Chỉ huy Quân sự huyện T do ông T1 cung cấp cho Tòa án có nội dung: “Tuyệt đối không vi phạm chủ trương về chặt cây, phá rừng ở những khu vực cấm, góp phần bảo vệ, quản lý đất đai, không tùy tiện nạo, vét khi chưa có chủ trương của trên đối với các thành viên được giao khoán đất và rừng theo quy định chung; có kế hoạch trồng thưa trong phạm vi đất được giao để bảo vệ môi trường sinh thái, chống biến đổi khí hậu”; khoản 6 Điều 3 có nội dung: “Từng thành viên khi được nhận khoản phải quản lý và tận dụng hết ao hồ và mặt nước, không được bỏ bê hoặc lợi dụng bơm cát lên giồng chiếm đất sản xuất gây ảnh hưởng thất thu đến các thành viên lân cận”. Như vậy, các thành viên nhận khoán không được nạo, vét ao hồ, bơm cát nếu không có chủ trương của Ban Chỉ huy Quân sự huyện T. Quá trình giải quyết vụ án, Ban Chỉ huy Quân sự huyện T xác định ông T1, bà T3, ông Minh T4, ông Thành T5 đã tự xây dựng, cải tạo làm thay đổi hiện trạng đất quốc phòng mà không được sự đồng ý của Ban Chỉ huy Quân sự huyện T. Ông T1 không có chứng cứ chứng minh việc đắp bờ, làm cống, khoan giếng trên đất đã được sự đồng ý của Ban Chỉ huy Quân sự huyện T. Ông T1 cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh công đắp bờ. Về cây trồng, Quy chế cho phép bên nhận khoán có kế hoạch trồng thưa trong phạm vi đất được giao để bảo vệ môi trường sinh thái, chống biến đổi khí hậu, không có quy định việc đền bù khi trả lại đất. Ông T1 trình bày việc trồng tràm bông vàng, cây các loại và lá dừa nước trên đất là chủ trương của Ban Chỉ huy Quân sự huyện T có lập biên bản cuộc họp năm 2002. Tuy nhiên, theo nội dung văn bản số 847/BCH-HCKT ngày 11 tháng 11 năm 2024, Ban Chỉ huy Quân sự huyện T xác định không có chủ trương, chỉ đạo, không có tổ chức họp, không có lập biên bản cuộc họp nào năm 2002 về việc đồng ý cho các hộ dân nhận khoán đất c2 trong đó có ông T1 được trồng tràm bông vàng, cây các loại và lá dừa nước trên phần đất c2.
[2.2] Tại biên bản thanh lý hợp đồng ngày 10 tháng 9 năm 2022 giữa Ban Chỉ huy Quân sự huyện T và ông Nguyễn Văn T1 về việc giao nhận khoán ngư trường (có chữ ký của ông T1) có nội dung các bên đã thống nhất thanh lý Hợp đồng số 33/HĐ-BCH ngày 10 tháng 9 năm 2017 và “Bên A đã đáp ứng đầy đủ điều kiện thanh lý quy định trong hợp đồng số 33/HĐ-BCH ngày 10/9/2017”. Ông T1 đồng ý ký vào biên bản thanh lý hợp đồng để các bên kết thúc hợp đồng số 33/HĐ-BCH ngày 10 tháng 9 năm 2017 nên sau khi hợp đồng kết thúc mà ông T1 không trả lại đất cho Ban Chỉ huy Quân sự huyện T là vi phạm nghĩa vụ của mình.
[2.3] Theo hồ sơ vụ án, phần đất có diện tích 26.681,9m² thuộc 01 phần thửa đất số 1, tờ bản đồ số 53 (thửa có ký hiệu 1(53)-A1 diện tích 26.661,5m²; 1(53)-A2 diện tích 20,4 m²), tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre mà Ban Chỉ huy Quân sự huyện T giao khoán nuôi trồng thủy sản cho ông Nguyễn Văn T1 theo hợp đồng số 33/HĐ-BCH ngày 10 tháng 9 năm 2017 có nguồn gốc do Ủy ban nhân dân tỉnh B phê duyệt cấp đất cho Ban Chỉ huy Quân sự huyện T theo Quyết định số 552/UB-QĐ ngày 30 tháng 6 năm 1986 và Quyết định số 1952/QĐ-UBND ngày 02 tháng 10 năm 2015 của Ủy ban nhân dân tỉnh B, Quyết định số 4514/QĐ-UBND ngày 25 tháng 11 năm 2015 của Ủy ban nhân dân huyện T, mục đích sử dụng xây dựng căn cứ quân sự, bảo vệ quốc phòng và để phát triển sản xuất. Như vậy, phần đất này thuộc quyền sử dụng đất của Ban Chỉ huy Quân sự huyện T, không thuộc quyền sử dụng được cấp cho ông Nguyễn Văn T1 nên việc Ban Chỉ huy Quân sự huyện T yêu cầu ông T1 và gia đình trả lại đất không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh.
[2.4] Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T1 có nộp đơn yêu cầu phản tố để yêu cầu Ban Chỉ huy Quân sự huyện T trả chi phí đầu tư trên đất cho gia đình ông. Tòa án đã ra thông báo nộp tiền tạm ứng án phí và đã tống đạt thông báo này cho ông T1 nhưng ông T1 không nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định, Tòa sơ thẩm đã ra thông báo trả lại đơn yêu cầu phản tố của ông T1 là phù hợp. Mặc dù ông T1 yêu cầu Ban Chỉ huy Quân sự huyện T bồi thường tiền vật kiến trúc, cây trồng các loại và lá dừa nước trên đất, tiền công đắp bờ, tiền công giữ đất thuộc trường hợp phải nộp tạm ứng án phí nhưng ông T1 không thực hiện nên yêu cầu phản tố của ông T1 chưa được Tòa án sơ thẩm thụ lý nên không xét đến là phù hợp.
[3] Từ những nhận định trên, xét kháng cáo của bị đơn Nguyễn Văn T1 là không có cơ sở, đương sự không cung cấp được chứng cứ chứng minh yêu cầu kháng cáo của mình là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[4] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Do yêu cầu kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Nguyễn Văn T1.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 52/2025/DS-ST ngày 28 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, 147, 157, 158, 165, Điều 228, 235, 266 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 158, khoản 2 Điều 165, 166 Bộ luật Dân sự; Điều 26, 166, 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 26, 31, 236 Luật Đất đai năm 2024; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ban Chỉ huy Quân sự huyện T, tỉnh Bến Tre. Buộc ông Nguyễn Văn T1, bà Đặng Thị Minh T3, ông Nguyễn Đặng Minh T4 và ông Nguyễn Đặng Thành T5 có nghĩa vụ giao trả cho Ban Chỉ huy Quân sự huyện T, tỉnh Bến Tre phần đất có diện tích 26.681,9m² thuộc 01 phần thửa đất số 1, tờ bản đồ số 53 (thửa có ký hiệu 1(53)-A1 diện tích 26.661,5m²; 1(53)-A2 diện tích 20,4m²), tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Bến Tre (có họa đồ kèm theo).
Buộc ông Nguyễn Văn T1, bà Đặng Thị Minh T3, ông Nguyễn Đặng Minh T4 và ông Nguyễn Đặng Thành T5 tháo dỡ, di dời toàn bộ tài sản trên đất gồm cống chính, đuôi cống, bửng cống, chòi lá, giếng khoang phi 49 và di dời cây trồng trên đất gồm 02 cây me, 18 cây tràm bông vàng đường kính gốc nhỏ hơn 20 cm, 150 cây tràm bông vàng đường kính gốc nhỏ hơn 5cm, 10 cây tra đường kính gốc nhỏ 10 cm, 3.000m² là dừa nước giá theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ và biên bản định giá tài sản ngày 18/6/2024, biên bản định giá tài sản ngày 22/10/2024, thông báo về việc đính chính biên bản định giá ngày 24/3/2025 để trả đất cho Ban Chỉ huy Quân sự huyện T, tỉnh Bến Tre. Nếu ông Nguyễn Văn T1, bà Đặng Thị Minh T3, ông Nguyễn Đặng Minh T4 và ông Nguyễn Đặng Thành T5 không tháo dỡ, di dời tài sản trên đất thì sẽ bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định.
Ban Chỉ huy Quân sự huyện T, tỉnh Bến Tre được sử dụng các cây bần trên phần đất có diện tích 26.681,9m².
- Về chi phí tố tụng:
Ông Nguyễn Văn T1, bà Đặng Thị Minh T3, ông Nguyễn Đặng Minh T4 và ông Nguyễn Đặng Thành T5 phải có nghĩa vụ liên đới trả lại cho Ban Chỉ huy Quân sự huyện T, tỉnh Bến Tre số tiền 4.693.850đ (bốn triệu sáu trăm chín mươi ba nghìn tám trăm năm mươi đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Văn T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).
Ban Chỉ huy Quân sự huyện T, tỉnh Bến Tre được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0000193 ngày 10/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Nguyễn Văn T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm số tiền 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0010984 ngày 09/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Ông T1 đã nộp xong án phí phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chí Đức |
Bản án số 313/2025/DS-PT ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
- Số bản án: 313/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đòi tài sản
