Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 313/2025/DS-PT

Ngày: 09-6-2025

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

(ranh đất).

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trọng Nhân

Các Thẩm phán: Bà Phùng Thị Cẩm Hồng;

Bà Trịnh Thị Phúc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Hiền - Kiểm sát viên.

Trong ngày 09 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 119/2025/TLPT-DS ngày 23 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất)”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 129/2024/DS-ST ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 138/2025/QĐ-PT ngày 15 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1962, địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Long An, có mặt.

- Bị đơn: Ông Lê Văn L, sinh năm 1961, địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Long An, có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1964, địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Long An, có đơn xin vắng.
  2. Ông Lê Ngọc L1, sinh năm 1962 (đã chết ngày 08/6/2024). Những người kế thừa quyền nghĩa vụ tố tụng của ông L1 gồm:
    1. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1962, địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Long An, có mặt.
    2. Chị Lê Thị Kim M1, sinh năm 1981, địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Long An, có đơn xin vắng.
    3. Chị Lê Thị Mộng D, sinh năm 1987, địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Long An, có đơn xin vắng.
    4. Chị Lê Thị Mộng T, sinh năm 1989, địa chỉ: Ấp L, xã T, huyện C, tỉnh Long An, có đơn xin vắng.
    5. Chị Lê Thị Mộng T1, sinh năm 1995, địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Long An, có đơn xin vắng.
  3. Ngân hàng N1. Địa chỉ: Khu A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An, có đơn xin vắng.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị M trình bày:

Năm 2007, bà nhận chuyển nhượng và đứng tên quyền sử dụng đất thửa đất số 656, tờ bản đồ số 3, diện tích 4.059m², loại đất lúa. Thửa đất số 656 giáp ranh với thửa 763 tờ bản đồ số 3 loại đất LUC của ông Lê Văn L và bà Nguyễn Thị N. Trước đây, hai thửa đất đều sử dụng để canh tác lúa có bờ ranh rõ ràng nhưng sau này đã đào ao để nuôi tôm và bà có làm đường nước giáp ranh với thửa 763. Trong quá trình sử dụng đất, ông L, bà N cho rằng phần đường mương nước là của ông L, bà N nên có phát sinh tranh chấp. Bà có gửi đơn ra Ủy ban nhân dân xã T nhưng không có kết quả. Do đó, bà khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Cần Đước yêu cầu như sau: Yêu cầu ông Lê Văn L và bà Nguyễn Thị N phải liên đới hoàn trả cho bà M phần đất diện tích 39,7m² tại khu B2 theo Mảnh trích đo địa chính số 48/TC-2022 của Công ty TNHH Đ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 08/11/2022. Yêu cầu công nhận cho bà Nguyễn Thị M phần đất diện tích 39,6m² tại khu B3 và 9,7m² tại khu B4 theo Mảnh trích đo địa chính số 48/TC-2022 của Công ty TNHH Đ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 08/11/2022.

Bị đơn ông Lê Văn L trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị N là chủ sử dụng thửa đất số 763 tờ bản đồ số 3 loại đất LUC tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An. Thửa đất 763, có nguồn gốc là của cha ruột tặng cho và ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa 763 có giáp ranh với thửa 656 của bà M, trước đây hai thửa đất đều trồng lúa nước có ranh là bờ đất ngang khoản 50 cm đến 60 cm hình thể bờ ranh cong sang thửa 656 của bà M, khoảng năm 1996 thì ông đào ao để nuôi tôm, đến năm 1997 thì Nhà nước tiến hành đào kênh nằm giữa thửa 763 và 656 do khi đào kênh nhà nước đào thẳng từ dưới lên trên ngang khoảng 4,2m, sâu khoảng 1,7m để dẫn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, đất đào kênh bỏ sang hai bên. Đến khoảng năm 2010 thì con kênh này không còn được sử dụng nên tôi có lấp một phần con kênh và phía bà M cũng có lấp con kênh nên có hiện trạng như hiện nay. Năm 2020 thì giữa ông và bà M phát sinh tranh chấp đối với ranh đất giữa thửa 656 và thửa 763 được Ủy ban nhân dân xã T hòa giải nhưng không thành. Nay bà M khởi kiện yêu cầu ông trả lại cho bà M phần đất diện tích 39,7m² tại khu B2 Mảnh trích đo địa chính số 48/TC-2022 của Công ty TNHH Đ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 08/11/2022 thì ông không đồng ý. Đối với phần đất diện tích 39,6m² tại khu B3 và 9,7m² tại khu B4 theo Mảnh trích đo địa chính số 48/TC-2022 ngày 24/10/2022 của Công ty TNHH Đ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 08/11/2022 thì ông không có tranh chấp, không có yêu cầu phản tố buộc bà M giao trả lại.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 129/2024/DS-ST ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An đã xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M về tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bị đơn Lê Văn L và bà Nguyễn Thị N về việc yêu cầu ông Lê Văn L và bà Nguyễn Thị N trả lại cho bà Nguyễn Thị M phần đất diện tích 39,7m² tại khu B2 của Mảnh trích đo địa chính số 48/TC-2022 ngày 24/10/2022 của Công ty TNHH Đ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 08/11/2022. Ông Lê Văn L và bà Nguyễn Thị N được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất diện tích 39,7m² tại khu B2 của Mảnh trích đo địa chính số 48/TC-2022 ngày 24/10/2022 của Công ty TNHH Đ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 08/11/2022.
  2. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M về việc yêu cầu Tòa án công nhận cho bà M được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất diện tích 39,6m² tại khu B3 và 9,7m² tại khu B4 theo Mảnh trích đo địa chính số 48/TC-2022 ngày 24/10/2022 của Công ty TNHH Đ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 08/11/2022. Bà Nguyễn Thị M được quyền đăng ký kê khai theo quy định của pháp luật về đất đai đối với phần đất diện tích 39,6m² tại khu B3 và 9,7m² tại khu B4 theo Mảnh trích đo địa chính số 48/TC-2022 ngày 24/10/2022 của Công ty TNHH Đ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 08/11/2022. Ông Lê Văn L phải có nghĩa vụ đăng ký điều chỉnh lại diện tích đất sử dụng cho đúng với thực tế tại thửa đất 763, tờ bản đồ số 03, tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An.
  3. Về án phí, chi phí tố tụng:
    1. Về án phí: Bà Nguyễn Thị M thuộc trường hợp được miễn án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016. Ông Lê Văn L và bà Nguyễn Thị N không phải chịu án phí.
    2. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và thẩm định giá: Số tiền là 20.700.000 đồng. Bà Nguyễn Thị M phải chịu, đã nộp xong.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, hướng dẫn thi hành án.

Ngày 13/01/2025, nguyên đơn bà Nguyễn Thị M kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu Tòa án cấp phúc gải quyết chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà, xác định phần đất tranh chấp vị trí B2 diện tích 39,7m² theo Mảnh trích đo địa chính số 48/TC-2022 của Công ty TNHH Đ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 08/11/2022 thuộc quyền sử dụng của bà.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, tại phần tranh luận:

Bị đơn ông L trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ tài liệu chứng cứ trong hồ sơ để xem xét và giải quyết vụ án. Ông vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày tại cấp sơ thẩm, không bổ sung gì thêm.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M thực hiện đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng pháp luật.

Về nội dung vụ án: Căn cứ vào hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 48/TC-2022 xét thấy: Khu đất B2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Văn L. Diện tích đất thực tế sử dụng của bà M và ông L đều nhiều hơn so với diện tích được cấp giấy chứng nhận. Cụ thể thửa 656 của bà M trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 4.059m², nhưng bà đang sử dụng là 4.110.8m² (nhiều hơn 51.8m²); thửa 763 của ông L trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 3.481m² nhưng thực tế sử dụng là 3.602m² (nhiều hơn 121m²). Mặt khác tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 21/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện ghi nhận: Trên phần đất tranh chấp khu B2 có một số bụi dừa nước, cả hai bên đều cho rằng do mình trồng nhưng không ai cung cấp được chứng cứ chứng minh. Ngoài ra bà M cũng không chứng minh được phần đất tranh chấp bà đã sử dụng ổn định lâu dài nên căn cứ vào ranh bản đồ địa chính thì phần đất tranh chấp khu B2 thuộc thửa 763 của ông Lê Văn L đang quản lý. Do đó, không có căn cứ để xác định ông L lấn chiếm đất của bà M. Vì vậy, Bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M về tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bị đơn Lê Văn L và bà Nguyễn Thị N về việc yêu cầu ông Lê Văn L và bà Nguyễn Thị N trả lại cho bà Nguyễn Thị M phần đất diện tích 39,7m² tại khu B2 của Mảnh trích đo địa chính số 48/TC-2022 ngày 24/10/2022 của Công ty TNHH Đ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 08/11/2022 là phù hợp.

Từ những phân tích trên đề nghị hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M. Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M thực hiện đúng quy định của pháp luật nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án có đơn xin vắng tại phiên tòa, căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Tại phiên tòa xét xử vụ kiện, các bên đương sự thống nhất với kết quả đo đạc theo Mảnh trích đo địa chính số 48/TC-2022 của Công ty TNHH Đ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 08/11/2022 và thống nhất với kết quả định giá theo biên bản định giá ngày 06/8/2024. Các bên đương sự không yêu cầu đo đạc và thẩm định giá lại nên Tòa án căn cứ theo Mảnh trích đo địa chính và Biên bản định giá nêu trên để làm căn cứ giải quyết vụ án.

[3] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị M:

[3.1] Xét thấy, ngày 27/5/1998, ông Lê Văn L được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 763, tờ bản đồ số 3, diện tích 3.481m², loại đất Lúa, đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An. Thửa đất trên của ông L được cha mẹ tặng cho và khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có tiến hành đo đạt, cấm mốc giới thực tế thửa đất. Theo Mảnh trích đo địa chính số 48/TC-2022 của Công ty TNHH Đ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 08/11/2022 thì thửa đất số 763 của ông L có diện tích thực tế sử dụng là 3.513m², sử dụng thừa 32m² với diện tích được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[3.2] Xét thấy, ngày 11/12/2007, bà Nguyễn Thị M được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 656, tờ bản đồ số 3, diện tích 4.059m², loại đất trồng Lúa, đất tọa lạc tại xã T, huyện C, tỉnh Long An. Thửa đất trên của bà M nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn G theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 09/11/2007 và khi làm thủ tục chuyển nhượng không có tiến hành đo đạt, cấm mốc giới thực tế thửa đất. Theo Mảnh trích đo địa chính số 48/TC-2022 của Công ty TNHH Đ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 08/11/2022 thì thửa 656 của bà M có diện tích thực tế sử dụng là 3.719,2m² + 391,6m² + 39,6m2 + 9,7m2 = 4.160,1m², thừa 101,1m² so với diện tích được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

[3.3] Xét thấy, theo Mảnh trích đo địa chính số 48/TC-2022 thì diện tích thực tế sử dụng của thửa đất 763 của ông L và thửa đất số 656 của bà M đều thừa so với diện tích được cấp trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bên cạnh đó, theo biên bản xem xét thẩm định tại chổ ngày 22/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An thì trên phần đất tranh chấp có một số bụi dừa nước không xác định được người trồng. Nguyên đơn bà M cho rằng phần đất tranh chấp vị trí B2 diện tích 39,7m² thuộc quyền sử dụng của bà bị ông L lấn chiếm sử dụng nhưng bà không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Mặt khác, theo Mảnh trích đo địa chính số 48/TC-2022 của Công ty TNHH Đ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 08/11/2022 thì phần đất tranh chấp vị trí B2 diện tích 39,7m² thuộc một phần thửa 763 được Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 27/5/1998. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết và không chấp nhận yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất của nguyên đơn bà M là có căn cứ.

[4] Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử xét không có căn cứ chấp nhận nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M. Quan điểm phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do yêu cầu kháng cáo không được Tòa án chấp nhận. Tuy nhiên, bà M là người cao tuổi nên miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm cho bà M.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M;

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 129/2024/DS-ST ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An.

Căn cứ Điều 26, Điều 34, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 165, Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 105, Điều 166, khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013; Điều 166, 175, 176 Bộ luật dân sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M với bị đơn Lê Văn L và bà Nguyễn Thị N đối với phần đất tranh chấp vị trí Khu B2, diện tích 39,7m² theo Mảnh trích đo địa chính số 48/TC-2022 của Công ty TNHH Đ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 08/11/2022. Ông Lê Văn L và bà Nguyễn Thị N được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp vị trí tại khu B2, diện tích 39,7m² theo Mảnh trích đo địa chính số 48/TC-2022 của Công ty TNHH Đ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 08/11/2022.
  2. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị M về việc yêu cầu Tòa án công nhận cho bà M được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng phần đất vị trí Khu B3, diện tích 39,6m² và phần đất tại vị trí Khu B4, diện tích 9,7m², theo Mảnh trích đo địa chính số 48/TC-2022 của Công ty TNHH Đ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 08/11/2022. Bà Nguyễn Thị M được quyền đăng ký kê khai theo quy định của pháp luật về đất đai đối với phần đất diện tích 39,6m² tại khu B3 và 9,7m² tại khu B4 theo Mảnh trích đo địa chính số 48/TC-2022 của Công ty TNHH Đ được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 08/11/2022.
  3. Ông Lê Văn L và bà Nguyễn Thị M có nghĩa vụ liên hệ cơ quan chức năng đăng ký, kê khai và điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng diện tích thực tế sử dụng theo quy định của pháp luật.
  4. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và thẩm định giá số tiền là 20.700.000 đồng. Bà Nguyễn Thị M phải chịu và đã nộp xong.
  5. Về án phí: Miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị M.
  6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị M.
  7. Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
  8. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Tp.HCM;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Cần Đước;
  • - Chi cục THADS huyện Cần Đước;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Trọng Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 313/2025/DS-PT ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất)

  • Số bản án: 313/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị M "Tranh chấp quyền sử dụng đất" Lê Văn L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger