Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 313/2024/HS-ST

Ngày: 22/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Văn Tầu.

Ông Nguyễn Văn Cát .

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Hoa là Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 265/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 288/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Văn P

( tên gọi khác: Không ), sinh ngày 07 tháng 4 năm 1974; tại: Hà Nội; HKTT: SỐ B T, phường V, quận H, TP .; Chỗ ở: P1208 tòa HH02-1A, chung cư T, xã C, huyện T, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/10/; Dân tộc: Kinh ; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn S và bà Trịnh Thị H ( đều đã chết ); Có vợ là Nguyễn Thị M và 02 con, lớn sinh năm 1996 và nhỏ sinh năm 1998 ;Tiền án, tiền sự: Không.

* Nhân thân:

  1. Bản án hình sự sơ thẩm số 77/2005/HSST ngày 20/7/2005 của Tòa án nhân dân thị xã Hà Đông xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt ngày 08/5/2007, đã được xóa án tích.
  2. Ngày 17/01/2010, Công an quận H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy bằng hình thức phạt tiền, đã nộp phạt ngày 18/01/2010;
  3. Ngày 01/02/2010, UBND quận H quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh tại Trung tâm G, thời hạn 24 tháng, đã chấp hành xong ngày 04/02/2012;
  4. Ngày 08/10/2015, Công an phường P, quận H xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy bằng hình thức phạt tiền, đã nộp phạt ngày 14/10/2015.

Bị cáo bị bắt tạm giữ theo biên bản bắt người phạm tội quả tang từ ngày 29/6/2024, hiện đang tạm giam tại trại giam S1 – Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Anh T, sinh năm 1968.

Địa chỉ: A, ngách A, ngõ H T, phường N, quận H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 26/6/2024, Phạm Văn P đang ở nhà tại P1208 tòa HH02-1A, chung cư T, xã C, huyện T, thành phố Hà Nội thì Nguyễn Anh T, sinh năm 1968, hộ khẩu thường trú (HKTT): 190 ngách A, ngõ H T, phường N, quận H, thành phố Hà Nội sử dụng số điện thoại 0865.916.xxx gọi đến số điện thoại 0343.663.xxx của P hỏi mua 500.000 đồng ma túy Methadone. Do bản thân P đang điều trị M1 tại trung tâm P1 nên đã nảy sinh ý định mang phần ma túy được cấp phát về tích trữ để bán cho T với giá 200.000 đồng. P đồng ý và hẹn đến ngày 29/6/2024 sẽ mang ma túy M1 đến bán cho T. Vào các ngày 27- 28/6/2024 khi P đi đến trung tâm điều trị Methadone thuộc phường H, quận H, thành phố Hà Nội thì chuẩn bị 01 lọ bằng nhựa mục đích để đựng phần ma túy Methadone mà P được cấp phát, khi được nhân viên của trung tâm phát Methadone để uống, P ngậm trong miệng và đi ra cổng trung tâm thì nhả số ma túy Methadone trong miệng vào lọ đã được chuẩn bị sẵn rồi mang về nhà cất vào tủ lạnh. Đến khoảng 09 giờ ngày 29/6/2024 sau khi gom được số ma túy Methadone của hai ngày trước đó P hẹn T đến khu vực đường L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội để giao ma túy, P lấy lọ nhựa bên trong chứa ma túy Methadone cất vào túi quần bên trái đang mặc rồi đi xe ôm đến điểm hẹn. Khi P đi đến trước cửa số A, H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội thì xuống xe ôm, đứng chờ T đến để giao ma túy thì bị tổ Công tác Công an phường V phối hợp với Công an phường H, quận H làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng, gồm (Bút lục 30-32; 37):

  • 01 (một) lọ nhựa nắp màu vàng bên ngoài dán nhãn màu hồng nhãn hiệu Ngọc Châu kích thước (10x4,5)cm, bên trong chứa chất lỏng màu hồng;
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, Galaxy A12, màu đen, sim số thuê bao 0343663572, đã qua sử dụng.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Văn P tại P1208 tòa HH02-1A, chung cư T, xã C, huyện T, thành phố Hà Nội nhưng không thu giữ gì.

Ngày 29/6/2024 và ngày 14/8/2024, Cơ quan điều tra quyết định trưng cầu giám định, giám định bổ sung đối với vật chứng nghi là ma túy đã thu giữ của Phạm Văn P.

Tại Bản kết luận giám định số 4978/KLGĐ-PC09 ngày 08/7/2024 của Phòng K-Công an thành phố H, kết luận (Bút lục 46):

“- Chất lỏng màu hồng bên trong 01 lọ nhựa nắp màu vàng bên ngoài dán nhãn màu hồng nhãn hiệu Ngọc Châu có ma túy loại Methandone, thể tích 50ml”.

Tại Bản kết luận giám định số 6289/KL-KTHS ngày 30/8/2024 của V- Bộ C, kết luận (Bút lục 47):

“- Hàm lượng (nồng độ)Methandone trong mẫu chất lỏng màu hồng gửi giám định là 1,4mg/ml. Khối lượng M2 có trong 40,0ml mẫu chất lỏng màu hồng gửi giám định là 0,056 gam”.

Về nguồn gốc ma túy thu giữ: Phạm Văn P khai do P đi uống tại cơ sở điều trị Methadone phòng khám Đ thuộc phường H, quận H, thành phố Hà Nội nhưng P không uống mà ngậm trong miệng rồi ra cổng trung tâm nhả số ma túy Methadone trong miệng vào lọ nhựa đã được chuẩn bị từ trước vào các ngày 27, 28/6/2024. Cơ quan điều tra đã xác minh tại Cơ sở điều trị M3 cung cấp: Phạm Văn P hiện đang điều trị uống Methadone tại phòng khám Đ thuộc phường H, quận H, thành phố Hà Nội. Ngày 27, 28/6/2024, P có đến uống Methadone tại Trung tâm, việc P ngậm trong miệng rồi ra cổng trung tâm nhả ra để bán thì Trung tâm không biết nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.

Đối với Nguyễn Anh T là người điện thoại hỏi mua ma túy Methandone của Phạm Văn P. T chưa nhận được ma túy thì bị Công an bắt giữ. Hành vi của T chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự về các tội phạm ma túy. Cơ quan điều tra đã thông báo cho chính quyền địa phương nơi T cư trú để quản lý, giáo dục là phù hợp.

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Văn P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.Tại bản cáo trạng số: 258/2024/CT-VKS-HĐ ngày 30/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố Phạm Văn P về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Phạm Văn P đã khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra, bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo đúng với hành vi bị cáo đã thực hiện và Viện kiểm sát truy tố bị cáo như vậy là đúng người, đúng tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Phạm Văn P như tội danh và điều luật đã viện dẫn tại bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn P từ 27 đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/6/2024.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về xử lý vật chứng:

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy: 01 ( một ) phong bì dán kín, tại các mép dán có chữ ký của Phạm Văn P, cán bộ Công an Nguyễn Văn H1 và giám định viên Hoàng Thế T1 và dấu tròn đỏ của V - Bộ C.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, Galaxy A12, màu đen, sim số thuê bao 0343663572, đã qua sử dụng.

Bị cáo Phạm Văn P không có tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận H, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân quận H trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn P không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Văn P đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng đã thu giữ trong vụ án và kết luận giám định. Đủ cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ 00 phút ngày 29/6/2024, tại khu vực trước cửa số 10-LK25, H, phường H, quận H, thành phố Hà Nội; Phạm Văn P có hành vi cất giấu trong người 01 chai ma túy Methadone thể tích 50ml, có khối lượng 0,056 gam để bán trái phép cho Nguyễn Anh T với giá 200.000 đồng, khi P đang chờ T đến để giao ma túy thì tổ Công tác Công an phường V phối hợp với Công an phường H, quận H phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi của bị cáo Phạm Văn P đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy", được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố bị cáo Phạm Văn P theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.
  3. Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm sự quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm an ninh trật tự an toàn xã hội. Ma túy là chất gây nghiện làm hủy hoại sức khỏe con người, làm sói mòn đạo đức xã hội và còn là nguyên nhân gây ra nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác.
  4. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Văn P không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  5. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo Phạm Văn P đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải hành vi phạm tội của mình do đó bị cáo đủ điều kiện hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015.
  6. Về nhận thân: Bị cáo có nhân thân xấu đã được cơ quan pháp luật xử lý và giáo dục nhiều lần tuy nhiên vẫn không chịu tu dưỡng rèn luyện để trở thành công dân có ích cho xã hội mà tiếp tục phạm tội.
  7. Về quyết định hình phạt: Sau khi xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Phạm Văn P là người đã trưởng thành, có sức khỏe, biết rất rõ tác hại của ma túy và đường lối xử lý của pháp luật, nhưng vẫn cố tình tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích để bán trái phép cho người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng. Do vậy, cần phải được xử lý nghiêm khắc trước pháp luật cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
  8. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự
  9. Về xử lý vật chứng:
    • - Đối với: 01 ( một ) phong bì dán kín, tại các mép dán có chữ ký của Phạm Văn P, cán bộ Công an Nguyễn Văn H1 và giám định viên Hoàng Thế T1 là vật nhà nước cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.
    • - Đối với: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, Galaxy A12, màu đen, sim số thuê bao 0343663572, đã qua sử dụng là công cụ bị cáo phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  10. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
  11. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố:
  2. Bị cáo Phạm Văn P phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

    Căn cứ: Khoản 1 Điều 251 ; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 của Bộ luật hình sự năm 2015.

    Xử phạt: Phạm Văn P 26 ( hai mươi sáu ) tháng tù .

    Thời hạn tù tính từ ngày bắt theo biên bản bắt người phạm tội quả tang là 29/6/2024.

  3. Về xử lý vật chứng:
  4. Căn cứ: Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 ; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

    Tịch thu tiêu hủy: 01 ( một ) phong bì dán kín, tại các mép dán có chữ ký của Phạm Văn P, cán bộ Công an Nguyễn Văn H1 và giám định viên Hoàng Thế T1.

    Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước:

    • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, Galaxy A12, màu đen, sim số thuê bao 0343663572, đã qua sử dụng.

    ( Tất cả vật chứng trên theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội ).

  5. Về án phí:
  6. Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Về quyền kháng cáo:
  8. Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát quận Hà Đông;
  • - Thi hành án quận Hà Đông;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. Hội đồng xét xử sơ thẩm

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 313/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 313/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Văn P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger