|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 313/2023/HS-ST
Ngày: 16/11/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Kim Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông: Nguyễn Tiến Chuyển
Bà: Trần Thị Oanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dung - Thư ký Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Dáng Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 326/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 339/2023/QĐXXST- HS ngày 03/11/2023 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Trung L, sinh năm: 1975; HKTT: TDP số 2, P, phường M, quận N, Hà Nội; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Con ông: Nguyễn Văn T (đã chết); Con bà: Lê Thị Lâm T1, sinh năm 1944; Vợ: Phương Thị S. Có 04 con, lớn nhất sinh 2009, nhỏ nhất sinh 2013; Tiền án; Tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 15/10/2003, Công an quận C, TP Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi: Cố ý gây thương tích. Mức phạt 100.000 đồng. Đã chấp hành xong.
Ngày 29/01/2004; Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm xử 9 tháng tù cho hưởng án treo về tội: Đánh bạc. Đã chấp hành xong.
Ngày 23/06/2009, Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm xử 4 năm 6 tháng tù về tội: Cướp tài sản. Ra trại ngày 18/01/2013. Đã chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 12/5/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Số 1 - Công an thành phố H.
2. Lê Mạnh D, sinh năm: 1986; HKTT: TDP số 7 P, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông: Lê C, sinh năm 1960; Con bà: Nguyễn Thị V, sinh năm 1962; Gia đình có 03 anh chị em bị cáo là con thứ 3; Vợ: Nguyễn Thị B, sinh năm 1985; con: 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2012;
Tiền án: Không.
Tiền sự: 01 tiền sự:
Ngày 17/03/2020, Công an quận N, TP Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Mức phạt 1500.000 đồng. Bị cáo chưa nộp phạt
Nhân thân:
Ngày 12/01/2015, Công an quận N, TP Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Mức phạt 1000.000 đồng. Đã chấp hành xong
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 12/05/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố H.
3. Bùi Trọng Q, sinh năm: 1987; HKTT: TDP số D, phường X, quận N, thành phố Hà Nội; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Bùi Duy Q1 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1956; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2; Vợ: Nguyễn Thị Hải Y, sinh năm 1991. Con: có 02 con, lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2020.
Tiền án: 01 tiền án:
Ngày 22/11/2018, Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xử phạt về tội: Tổ chức đánh bạc, mức phạt tiền 50.000.000 đồng. Bị cáo đã nộp án phí sơ thẩm và 1.350.000 đồng tiền sung công quỹ Nhà Nước tuy nhiên chưa thi hành xong khoản tiền phạt 48.650.000 đồng.
Tiền sự: không.
Nhân thân:
- - Ngày 01/08/2007, Tòa án nhân dân Cầu Giấy xử sơ thẩm tuyên 30 tháng tù giam về tội: Cố ý gây thương tích (Bản án số 139). Ngày 24/09/2007, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phúc thẩm tuyên 30 tháng tù cho hưởng án treo về tội: Cố ý gây thương tích; Bị cáo đã chấp hành xong.
- - Ngày 25/5/2003, Công an quận C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: Gây rối trật tự công cộng; Mức phạt 200.000 đồng. Đã chấp hành xong.
- - Ngày 05/9/2005, Công an quận T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, mức phạt 125.000 đồng. Đã chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 12/05/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1- Công an thành phố H.
Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 00 phút ngày 12/5/2023, Công an phường M kiểm tra nhân hộ khẩu tại khu trọ phòng số I ngõ A P, phường M, quận N, thành phố Hà Nội phát hiện 03 người gồm: Lê Mạnh D, Bùi Trọng Q, Nguyễn Trung L đang ngồi trên giường bên cạnh có 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng được cuốn thành ống hút; 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng có chứa chất bột màu trắng ghi là ma tuý và 01 tờ giấy bạc màu trắng đã bị hơ qua lửa. Tại chỗ các đối tượng khai nhận vừa sử dụng ma tuý Heroine, chất bột màu trắng trên là ma tuý Heroine còn lại sau khi cả 3 đã sử dụng. Công an phường lập biên bản, niêm phong tang vật, dẫn giải đối tượng về trụ sở công an phường M lập hồ sơ và chuyển Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
* Vật chứng thu giữ:
- - 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5000VNĐ được cuốn thành hình trụ;
- - 01 tờ tiền mệnh giá 5000VNĐ có chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy;
- - 01 tờ giấy bạc màu trắng có dính chất bột màu trắng;
- - 01 điện thoại di động S1 A10, gắn sim số 0813691975 (thu giữ của Lê Mạnh D)
- - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A775 màu xanh, gắn sim số 0359565345 (thu giữ của Bùi Trọng Q);
Tại Bản kết luận giám định số 3076 ngày 19/5/2023 của Phòng PC09 - Công an T kết luận:
- - Chất bột màu trắng bên trong 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng là ma tuý loại Heronie, khối lượng 0, 011 gam.
- - 01 (một) tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng và 01 tờ giấy bạc màu trắng đều có dính ma tuý loại Heroine.
Quá trình điều tra khai thác mở rộng vụ án xác định đối tượng bán trái phép ma tuý cho bị caó Lê Mạnh D, Bùi Trọng Q vào ngày 12/5/2023 là Trần Quốc T2, sinh ngày: 07/8/1979; HKTT: số B D, phường M, quận C, thành phố Hà Nội, hiện bị cáo T2 đang tạm giam theo Quyết định khởi tố bị cáo của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C.
Quá trình điều tra xác định:
Bị caó Nguyễn Trung L, Lê Mạnh D, Bùi Trọng Q đều nghiện ma tuý, đã cùng nhau sử dụng ma tuý Heronie nhiều lần tại phòng trọ của L tại số I ngõ A P, phường M, quận N, thành phố Hà Nội. Khoảng 12 giờ ngày 12/5/2023, D liên hệ với Q rủ đi mua ma tuý để sử dụng, Q đồng ý, cả hai thống nhất mua 300.000 đồng ma tuý Heroine. Qua bạn nghiện cho số điện thoại của người bán ma tuý nên D sử dụng số điện thoại 0813.691.xxx liên hệ đến số điện thoại 0842.501.xxx của bị caó Trần Quốc T2 hỏi mua 300.000 đồng ma tuý Heroine. T2 đồng ý và hẹn đến ngõ A N, Q, quận C, Thành phố Hà Nội để giao dịch. Sau đó D mượn xe máy của bạn xã hội chở Q từ P, M đến điểm hẹn. Khi D và Q gặp T2 tại đầu ngõ A N, T2 yêu cầu Q chuyển tiền mua ma tuý vào tài khoản ngân hàng M: 00183779048888 mang tên Trần Quốc T2 số tiền 300.000 đồng (số tiền này do Q ứng ra trước, Dương hẹn sẽ trả cho Q vào buổi tối cùng ngày). Sau khi nhận được tiền, T2 chỉ cho D và Q chỗ cất giấu ma tuý tại góc cửa sổ ngôi nhà cạnh đường cách chỗ 3 người đứng khoảng 30m và rời đi. D và Q đi đến vị trí T2 chỉ dẫn tìm thấy 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 gói giấy bạc chứa ma tuý H, Quyền vứt vỏ bao thuốc lá và lấy gói giấy bạc cất giấu vào trong túi quần phía trước bên phải.
Sau đó D chở Q đi về phòng trọ của Nguyễn Trung L tại số I ngõ A P, phường M, quận N để rủ L cùng nhau sử dụng ma túy. L đồng ý. Quyền lấy 01 tờ tiền 5.000 đồng cuốn thành ống hút, D bỏ ra 01 tờ tiền 5.000 đồng để Q lấy gói ma tuý vừa mua được đổ lên tờ tiền 5.000 đồng. Sau đó D lấy mảnh giấy bạc trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long và đổ Heroine đốt trên giấy bạc để sử dụng bằng cách hít vào miệng bằng tẩu hút cuốn bằng tờ tiền 5.000 đồng, sau đó Q và L lần lượt sử dụng. Khi cả 3 đang sử dụng thì bị Công an phường M kiểm tra phát hiện bắt giữ cùng tang vật.
Về nguồn gốc số ma tuý: Trần Quốc T2 bán cho các đối tượng sử dụng, T2 khai không có quan hệ, không quen biết, không thừa nhận hành vi bán ma tuý Heroine cho bị cáo D, Quyền vào ngày 12/5/2023 nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ nguồn gốc số ma tuý trên.
Đối với bị cáo Trần Quốc T2: Ngày 15/6/2023, Cơ quan CSĐT – C1, TP Hà Nội đã khởi tố bị cáo đối với Trần Quốc T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Ngày 08/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N ra Quyết định tách vụ án hình sự số 14 ngày 08 tháng 08 năm 2023 để tách hành vi “ Mua bán trái phép chất ma túy” liên quan đến bị cáo Trần Quốc T2. Thực hiện nguyên tắc có lợi cho bị cáo, ngày 11/8/2023 Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đã ra Quyết định chuyển vụ án hình sự để điều tra theo thẩm quyền đối với bị cáo Trần Quốc T2 can tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” đến Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C, TP Hà Nội. Do vậy trong vụ án này Cơ quan CSĐT – C2 không đề nghị truy tố đối với bị cáo T2.(BL:40-42)
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Trung L, Lê Mạnh D, Bùi Trọng Q đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản kiểm tra hành chính, biên bản tạm giữ đồ vật, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, lời khai của những người liên quan, tài liệu khác trong hồ sơ vụ án.
Tại Bản cáo trạng số 317/CT-VKS ngày 30/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố các bị cáo Nguyễn Trung L, Lê Mạnh D, Bùi Trọng Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm trong phần luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử :
Áp dụng: điểm b, khoản 2, Điều 255; Điều 38; điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 - đối với các bị cáo:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung L từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2023;
Xử phạt bị cáo Lê Mạnh D từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2023;
Áp dụng: điểm b, khoản 2, Điều 255; điểm h, khoản 1, Điều 52; điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Bùi Trọng Q từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2023;
*Về vật chứng: căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
- + 01 (một) phong bì niêm phong mép dán có chữ ký niêm phong của Nguyễn Trung L, Lê Mạnh D và Bùi Trọng Q, Cán bộ C3 và giám định viên, bên trong là 01 (một) tờ giấy bạc màu trắng có dính ma túy loại Heroin.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước:
- + 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng OPPO A77S màu xanh, gắn 01 sim (điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong).
- + 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Samsung Galaxy A10, gắn 01 sim (điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong).
- + 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng dính ma túy.
Về án phí: căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điều 6, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí HSST.
Các Bị cáo đều không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, phù hợp với bản kết luận giám định số 3076 ngày 19/5/2023 của phòng PC 09 – Công an T và các biên bản, tài liệu khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ.
[3] Những chứng cứ trên đây đủ cơ sở xác định: Hồi 14 giờ 00 phút ngày 12/5/2023, tại khu trọ phòng số I ngõ A P, phường M, quận N, thành phố Hà Nội, Nguyễn Trung L, Lê Mạnh D, Bùi Trọng Q đã cùng nhau bàn bạc, thống nhất góp tiền để cùng nhau mua ma túy loại Heroine để cùng sử dụng trái phép tại nhà của bị cáo Nguyễn Trung L thì bị Tổ Công tác Công an phường M bắt quả tang cùng tang vật.
Hành vi của các bị cáo Nguyễn Trung L, Lê Mạnh D, Bùi Trọng Q đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự 2015.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an cho xã hội. Các bị cáo đều có nhân thân xấu cụ thể đối với từng bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Trung L: Ngày 15/10/2003, Công an quận C, TP Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi: Cố ý gây thương tích. Mức phạt 100.000 đồng. Đã chấp hành xong. Ngày 29/01/2004: Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm xử 9 tháng tù cho hưởng án treo về tội: Đánh bạc. Đã chấp hành xong. Ngày
23/06/2009, Tòa án nhân dân huyện Từ Liêm xử 4 năm 6 tháng tù về tội: Cướp tài sản. Ra trại ngày 18/01/2013. Đã chấp hành xong.
Bị cáo Lê Mạnh D: Ngày 17/03/2020, Công an quận N, TP Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Mức phạt 1.500.000 đồng. Bị cáo chưa nộp phạt. Ngày 12/01/2015, Công an quận N, TP Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Mức phạt 1.000.000 đồng. Đã chấp hành xong.
Bị cáo Bùi Trọng Q: Ngày 01/08/2007, Tòa án nhân dân Cầu Giấy xử sơ thẩm tuyên 30 tháng tù giam về tội: Cố ý gây thương tích (Bản án số 139). Ngày 24/09/2007, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phúc thẩm tuyên 30 tháng tù cho hưởng án treo về tội: Cố ý gây thương tích; Bị cáo đã chấp hành xong. Ngày 25/5/2003, Công an quận C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: Gây rối trật tự công cộng; Mức phạt 200.000 đồng. Đã chấp hành xong. Ngày 05/9/2005, Công an quận T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, mức phạt 125.000 đồng. Đã chấp hành xong.
Đối với bị cáo Quyền lần này bị cáo phạm tội là tái phạm theo quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật hình sự (Ngày 22/11/2018, Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xử phạt về tội: Tổ chức đánh bạc, mức phạt tiền 50.000.000 đồng. Bị cáo đã nộp án phí sơ thẩm và 1.350.000 đồng tiền sung công quỹ Nhà Nước tuy nhiên chưa thi hành xong khoản tiền phạt 48.650.000 đồng vì vậy chưa được xóa án tích). HĐXX thấy các bị cáo có đủ năng lực nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn phạm tội do vậy cần phải xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tính giáo dục để cải tạo các bị cáo trở thành người tốt cho xã hội, tuy nhiên xét tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét vai trò của các bị cáo, HĐXX xét thấy: Các bị cáo là đồng phạm giản đơn và có vai trò ngang nhau. Tuy nhiên bị cáo D là người khởi xướng, rủ các bị cáo khác cùng sử dụng ma túy nên bị cáo D phải chịu hình phạt cao hơn các bị cáo khác. Đối với bị cáo L và bị cáo Q chịu hình phạt ngang nhau phù hợp với hành vi mà các bị cáo gây ra.
Về nguồn gốc số ma tuý: Trần Quốc T2 bán cho các đối tượng sử dụng, T2 khai không có quan hệ, không quen biết, không thừa nhận hành vi bán ma tuý Heroine cho bị cáo D, Quyền vào ngày 12/5/2023 nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ nguồn gốc số ma tuý trên (BL: 248-251).
Đối với bị cáo Trần Quốc T2: Ngày 15/6/2023, Cơ quan CSĐT – C1, TP Hà Nội đã khởi tố bị cáo đối với Trần Quốc T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Ngày 08/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N ra Quyết định tách vụ án hình sự số 14 ngày 08 tháng 08 năm 2023 để tách hành vi “ Mua bán trái phép chất ma túy” liên quan đến bị cáo Trần Quốc T2. Thực hiện nguyên tắc có lợi cho bị cáo, ngày 11/8/2023 Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm đã ra Quyết định chuyển vụ án hình sự để điều tra theo thẩm quyền đối với bị cáo Trần Quốc T2 can tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” đến Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C, TP Hà Nội. Do vậy trong vụ án này Cơ quan CSĐT – C2 không đề nghị truy tố đối với bị cáo T2.
Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Trung L, Lê Mạnh D, Bùi Trọng Q đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản kiểm tra hành chính, biên bản tạm giữ đồ vật, lời khai của người làm chứng và các chứng cứ, lời khai của những người liên quan, tài liệu khác trong hồ sơ vụ án.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên miễn phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án:
- - Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (một) phong bì niêm phong mép dán có chữ ký niêm phong của Nguyễn Trung L, Lê Mạnh D và Bùi Trọng Q, Cán bộ C3 và giám định viên, bên trong có 01 (một) tờ giấy bạc màu trắng có dính ma túy loại Heroine.
- - Tịch thu sung công quỹ nhà nước:
- + 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng OPPO A77S màu xanh, gắn 01 sim (điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong).
- + 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Samsung Galaxy A10, gắn 01 sim (điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong).
+ 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng (bên trong 01 phong bì niêm phong có chữ ký niêm phong của Nguyễn Trung L, Lê Mạnh D và Bùi Trọng Q; Cán bộ C3 và Giám định viên).
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Trung L, Lê Mạnh D, Bùi Trọng Q . phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: điểm b, khoản 2, Điều 255; điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38, Điều 47, của Bộ luật hình sự năm 2015:
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Trung L 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2023;
Xử phạt: Bị cáo Lê Mạnh D 08 (Tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2023;
Áp dụng: điểm b, khoản 2, Điều 255; điểm s khoản 1, Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Bùi Trọng Q 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/5/2023;
* Về vật chứng: Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ Tố tụng hình sự
- Tịch thu tiêu hủy:
01 (một) phong bì niêm phong mép dán có chữ ký niêm phong của Nguyễn Trung L, Lê Mạnh D và Bùi Trọng Q, Cán bộ C3 và giám định viên, bên trong có 01 (một) tờ giấy bạc màu trắng có dính ma túy loại Heroine.
- Tịch thu sung công quỹ nhà nước:
- + 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng OPPO A77S màu xanh, gắn 01 sim (điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong).
- + 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Samsung Galaxy A10, gắn 01 sim (điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong).
- + 02 (hai) tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng (bên trong 01 phong bì niêm phong có chữ ký niêm phong của Nguyễn Trung L, Lê Mạnh D và Bùi Trọng Q; Cán bộ C3 và Giám định viên).
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 24 ngày 30/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
* Về án phí: Mỗi bị cáo Nguyễn Trung L, Lê Mạnh D, Bùi Trọng Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phan Thị Kim Thanh |
Bản án số 313/2023/HS-ST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 313/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Nguyễn Trung L, Lê Mạnh D, Bùi Trọng Q . phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
