TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 312/2024/HS-ST
Ngày: 30/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Hòa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Trường Sơn – Giáo viên
Bà Phạm Thị Thu Hà – Công chức tư pháp
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Dương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Báu - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 300/2024/TLST-HSST ngày 19 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 372/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Viên Thế Đ - Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 14 tháng 4 năm 2007 huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Nơi đăng ký thường trú: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Viên T – sinh năm 1982 và bà: Phan Thị L – sinh năm 1984; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bị áp dụng biện pháp cấm rời khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Trần Quang H - Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 12 tháng 01 năm 2007 huyện N, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký thường trú: Xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Duy H1 – sinh năm 1975 và bà: Phạm Thị H2 – sinh năm 1978; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị bị áp dụng biện pháp cấm rời khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
- + Chị Đặng Thị Hồng M – sinh năm 2004 – vắng mặt
- Địa chỉ: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An
- + Chị Nguyễn Thị Linh C – sinh năm 2003 – vắng mặt
- Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo:
- + Bà Phạm Thị H2 – sinh năm 1978 (mẹ bị cáo H) – có mặt
- Địa chỉ: Xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An
- + Ông Phạm Hữu H3 – sinh năm 1980 (cậu bị cáo Đ) – có mặt
- Địa chỉ: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An
- Đại diện chi đoàn xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (nơi cháu H sinh sống) – vắng mặt.
- Đại diện chi đoàn xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (nơi cháu Đ sinh sống) – vắng mặt.
- Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Lê Văn L1 – Trung tâm trợ giúp pháp lý - Đoàn luật sư tỉnh N – có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 22/5/2024, Nguyễn Trung K, sinh năm 2009, trú tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An cùng với Viên Thế Đ, sinh năm 2007 rủ nhau vào thành phố V để trộm cắp tài sản. Sau đó, Đ điều khiển chiếc xe máy Wave, màu xanh tím than, không gắn biển số chở K đi từ huyện N và thành phố V để lấy trộm tài sản. Khi đến quán cà phê “Găm Coffee” số A, đường D, thuộc khối T, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An quan sát thấy chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen, biển số 37K2 – 679.05 của chị Đặng Thị Hồng M (sinh năm 2004, trú tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An) đang dựng ở phía trước quán, không có người trông coi bảo vệ nên K và Đ đã bàn bạc với nhau lấy trộm. Sau đó, Đ dừng xe ở dưới lề đường ở gần trước quán C1 để K vào phá khóa bằng cách đấu dây điện ổ khóa xe máy. Sau khi phá khóa, K điều khiển chiếc xe vừa trộm được chạy trước, còn Đ đi xe máy chạy theo bỏ chạy về chợ N, huyện N rồi vào hiệu cắt khoá bên đường cắt chìa khoá xe máy và tháo biển số xe máy vừa lấy trộm ra bỏ vào cốp xe máy. Sau khi cắt được chìa khoá thì K và Đ đi về nhà, trên đường đi K ném biển số xe máy lấy trộm bên đường (không xác định được địa điểm). Do chưa tìm được nơi tiêu thụ, nên K đã đưa chiếc xe gửi tại nhà Nguyễn Văn L2, sinh năm 2007, trú tại xóm Y, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Đến ngày 06/6/2024 anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1967, trú tại xóm Y, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An (là bố đẻ của Nguyễn Văn L2) đưa chiếc xe máy đến giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an huyện N.
Tại Kết luận định giá tài sản số 169/KL-HĐĐGTS ngày 23/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu đen, biển kiểm soát 37K2 – 679.05, số khung: số khung: RLHJA3935PY637722, số máy: JA70E0164682, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 22/5/2024 có giá trị là trị giá 18.500.000 đồng (Mười tám triệu năm trăm nghìn đồng).
Vụ thứ hai: Vào ngày 25/5/2024, Nguyễn Trung K sinh năm 2009, trú tại xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An và Trần Quang H, sinh năm 2007 rủ nhau đi vào thành phố V để trộm cắp tài sản. Sau đó, K điều khiển chiếc xe máy Wave, màu đen, không gắn biển số chở H đi vào thành phố V. Đến khoảng 20 giờ 30 phút, cùng ngày khi đi đến khu vực quảng trường H thuộc khối A, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An phát hiện chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu xanh, biển số 37MA – 512.26 của chị Nguyễn Thị Linh C, sinh năm 2003, trú tại thôn L, xã T, huyện A, tỉnh Nghệ An đang dựng ở mép đường không có người trông coi bảo vệ nên K và H đã bàn bạc lấy trộm. Lợi dụng không có ai để ý, H nhảy xuống xe rồi đi lại đẩy chiếc xe máy ra phía sau xe ô tô đỗ cạnh đó rồi K đi lại phá khóa bằng cách đấu dây điện tại ổ khóa xe. Sau khi phá khóa thì K điều khiển chiếc xe vừa trộm được chạy trước, còn H đi xe máy chạy theo sau để bỏ trốn. Trên đường bỏ chạy K đã ném biển số xe máy lấy trên bên đường (không xác định được địa điểm). Chiếc xe máy trộm được, K sử dụng cho đến ngày 04/6/2024 bị Công an huyện N bắt giữ về hành vi Cướp tài sản tại địa bàn huyện N và thu giữ chiếc xe máy trên.
Tại Kết luận định giá tài sản số 169/KL-HĐĐGTS ngày 23/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự kết luận: Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại xe Wave Alpha, sơn màu xanh, biển số: 37MA- 512.26, số khung: RLHJA3933PY145741, số máy: JA70E0213499, đã qua sử dụng tại thời điểm ngày 25/5/2024 trị giá 16.500.000 đồng (Mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng).
Ngày 20/6/2024 Viên Thế Đ và Trần Quang H đến đầu thú tại Cơ quan CSĐT Công an huyện N, tỉnh Nghệ An.
Cáo trạng số 311/CT - VKS - TPV ngày 19/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh truy tố Viên Thế Đạt, Trần Quang H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 BLHS.
Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 điều 173, điểm b, i, s khoản 1, 2 điều 51; điều 91, điều 101, điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Trần Quang H từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 12 đến 18 tháng; áp dụng khoản 1 điều 173, điểm i, s khoản 1, 2 điều 51; điều 91, điều 101, điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Viên Thế Đ từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 18 đến 24 tháng. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo. Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm vì vậy miễn xét.
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho các bị cáo trình bày: Các bị cáo phạm tội dưới 18 tuổi, ý thức pháp luật còn hạn chế, dễ bị kích động, rủ rê lôi kéo, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và cho các bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của Viện kiểm sát.
Bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng khác của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Xét hành vi phạm tội: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, người liên quan và các chứng cứ khác đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Như vậy, có cơ sở để kết luận: Ngày 22/5/2024, Nguyễn Trung K, sinh năm 2009 rủ Viên Thế Đ trộm 01 xe mô tô biển số 37K2-679.05 tại số A, đường D, thuộc khối T, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An có trị giá là 18.500.000 đồng (Mười tám triệu năm trăm nghìn đồng) của chị Đặng Thị Hồng M. Ngày 25/5/2024, Nguyễn Trung K, sinh năm 2009 rủ Trần Quang H trộm 01 xe mô tô biển số: 37MA- 512.26 tại khu vực quảng trường H thuộc khối A, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An có trị giá 16.500.000 đồng (Mười sáu triệu năm trăm nghìn đồng) của chị Nguyễn Thị Linh C. Như vậy, hành vi của bị cáo Viên Thế Đ và Trần Quang H đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự như bản cáo trạng truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.
[2.2] Xét tính chất vụ án: Tội phạm thuộc loại ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của người bị hại được pháp luật bảo vệ. Vì vậy cần xử phạt mức án phù hợp nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
[2.3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình, có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã ra đầu thú, đã tự nguyện bồi thường khắc phục sữa chữa, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng điều 91, điều 101 khi lượng hình phạt đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Các bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên chưa cần thiết cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ tác dụng giáo dục và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[2.4] Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội này ngoài hình phạt chính còn có hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét bị cáo không có tài sản riêng, công việc không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[3] Về dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, chị Nguyễn Thị Linh C hiện không yêu cầu gì đối với các bị cáo vì vậy miễn xét.
Đối với Nguyễn Trung K, tại thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản Nguyễn Trung K chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử phạt hành chính là đúng quy định pháp luật.
[4] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự;
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Viên Thế Đ, Trần Quang H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm i, s khoản 1, 2 điều 51; điều 91; điều 101; điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Viên Thế Đ 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 18 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/9/2024).
- Áp dụng khoản 1 điều 173; điểm b, i, s khoản 1, 2 điều 51; điều 91; điều 101; điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Trần Quang H 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (30/9/2024).
- Giao bị cáo Viên Thế Đ cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Giao bị cáo Trần Quang H cho UBND xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại điều 92 Luật thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí: Căn cứ điều 136 BLTTHS; điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí buộc bị cáo Viên Thế Đ, Trần Quang H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, Người bào chữa, Người đại diện cho bị cáo dưới 18 tuổi được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồ Hòa |
Bản án số 312/2024/HS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 312/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án số 312/HSST
