TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 312/2024/HNGĐ-ST Ngày: 21-8 - 2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Trần Trúc Thuỷ
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Thiều Thị Phi Loan.
- Ông Trần Văn Chánh.
Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Phương Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 794/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 198/2024/QĐXXST - HNGĐ, ngày 24 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 330/2024/QÐST-HNGĐ, ngày 24 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Tổ F, khu phố E, phường A, TP .Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Lê Văn G, sinh năm 1979.
Địa chỉ: C, Tổ F, khu phố E, phường A, TP .Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
(Bà H có đơn xin xét xử vắng mặt, ông G vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Lê Văn G kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn và được UBND xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định cấp giấy chứng nhận kết hôn số 36 ngày 19/05/2005. Quá trình chung sống hạnh phúc thời gian đầu đến năm 2020, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng nhiều lần hòa giải với nhau nhưng không thành. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm với ông G, mâu thuẫn không thể hòa giải hàn gắn, mục đích hôn nhân không còn nên bà vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông G.
Về con chung: Quá trình chung sống bà H và ông G có 02 con chung là cháu Lê M, sinh năm 2005 và cháu Lê Thị Trúc L, sinh năm 22/01/2014. Ly hôn, cháu M đã trưởng thành trên 18 tuổi, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu L. Tạm thời không yêu cầu ông G cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê Văn G đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến, không đến Toà án để tham gia tố tụng.
* Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị H. Cho bà H ly hôn với ông Lê Văn G.
Về con chung: Giao cháu Lê Thị Trúc L, sinh năm 22/01/2014 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật. Tạm thời ông G không phải cấp dưỡng nuôi con. Cháu M đã trưởng thành trên 18 tuổi, có khả năng lao động, bà H không yêu cầu xem xét giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: Bà H trình bày tự thỏa thuận, chưa lấy được ý kiến của ông G nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Bà H trình bày không có, chưa lấy được ý kiến của ông G nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bà H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Phạm Thị H khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” đối với bị đơn là ông Lê Văn G. Căn cứ vào biên bản xác minh ngày 09/5/2024 do Công an phường A cung cấp thể hiện Ông G có nơi cư trú tại địa chỉ: C, Tổ F, khu phố E, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.
Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông G nhưng ông G không đến Toà án tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, các phiên toà xét xử mà không có lý do; Nguyên đơn bà H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 207, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà H, ông G.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị H và ông Lê Văn G kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được UBND xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định cấp giấy chứng nhận kết hôn số 36 ngày 19/05/2005, nên là hôn nhân hợp pháp theo Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 nên được pháp luật công nhận, bảo vệ.
Theo trình bày của bà H thì quá trình chung sống hạnh phúc thời gian đầu đến năm 2020, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, không quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng nhiều lần hòa giải với nhau nhưng không thành. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm với ông G, mâu thuẫn không thể hòa giải hàn gắn, mục đích hôn nhân không còn nên bà vẫn giữ nguyên nội dung khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông G.
Tại văn bản xác minh ngày 14/5/2024, địa phương cung cấp không nắm được thông tin mâu thuẫn giữa bà H, ông G. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng triệu tập ông G đến tham gia phiên hòa giải, triệu tập ông G đến tham gia các phiên tòa nhưng ông G đều vắng mặt không có lý do, chứng tỏ ông Gia b mặc, không mong muốn bảo vệ và duy trì hôn nhân với bà H. Xét thấy, mâu thuẫn giữa bà H, ông Gia 1 vào tình trạng trầm trọng. Ông G không có thiện chí hoặc biện pháp để hàn gắn gia đình, mục đích hôn nhân không đạt. Vì vậy, nay bà H xin ly hôn với ông G là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56, Điều 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống, bà H và ông G có 02 con chung là cháu Lê M, sinh năm 2005 và cháu Lê Thị Trúc L, sinh năm 22/01/2014. Ly hôn, bà H có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu L, không yêu cầu ông G cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu M đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông G đồng ý giao cháu L cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Mặt khác, cháu L đã trên 07 tuổi qua tham khảo ý kiến của cháu thì cháu L có nguyện vọng được bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Vì vậy, để đảm bảo cuộc sống ổn định không ảnh hưởng đến tâm lý của cháu L thì tại thời điểm hiện nay việc giao cháu L cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Vì vậy, chấp nhận yêu cầu của bà H giao cháu L cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Cháu M trên 18 tuổi, đã trưởng thành có khả năng lao động nên không xem xét, giải quyết. Do bà H không yêu cầu cấp dưỡng nuôi cháu L nên tạm thời ông G không phải cấp dưỡng nuôi cháu L.
Ông G có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở ông G thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung: Bà H, ông Gia tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: Bà H, ông G trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Bà H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
[4] Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hoà thì thấy phù hợp với tài liệu, chứng cứ, quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Các Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;
- - Các Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H.
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị H được ly hôn với ông Lê Văn G.
- - Về con chung: Giao cháu Lê Thị Trúc L, sinh năm 22/01/2014 cho bà Phạm Thị H trực tiếp chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Cháu Lê M, sinh năm 2005 đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.
- Tạm thời ông Lê Văn G không phải cấp dưỡng nuôi cháu L. Ông G có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở ông G thực hiện quyền này. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
- - Về tài sản chung: Không xem xét, giải quyết.
- - Về nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Thị H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn, được khấu trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hoà theo biên lai thu số 0003034 ngày 27 tháng 3 năm 2024 (Bà H đã nộp xong).
- Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Trần Trúc Thuỷ |
Bản án số 312/2024/HNGĐ-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 312/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HOÀ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Thị Hạnh ly hôn với Lê Văn Gia
