|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 312/2025/DSST
Ngày 29/12/2025
V/v: “Tranh chấp hợp đồng góp hụi và vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 - AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tấn Lập
Bà Mai Thị Lý
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diệp - Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang: không
tham gia phiên tòa.
Ngày 29 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 263/2025/TLST-DS ngày 25 tháng 11 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng góp hụi và vay tài sản”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 134A/2025/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1977. CCCD số [...]
Địa chỉ: Ấp M, xã S, tỉnh An Giang. - Bị đơn: Bà Kiều Thu N, sinh năm 1968. CCCD số 08916802224
Địa chỉ: Ấp M, xã S, tỉnh An Giang
(Nguyên đơn có mặt. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dung khởi kiện, nguyên đơn bà Trần Thị T trình bày như sau:
Tôi và bà Kiều Thu N là chỗ quen biết nên tôi có tham gia 06 dây hụi do bà Kiều Thu N làm chủ:
- - Dây hụi thứ nhất: Hụi khui ngày 15/03/2022 (AL) hụi tháng, một tháng hụi chết đóng 2.000.000 đồng tôi gia 2 chân hụi với hình thức ai bỏ cao người đó sẽ hốt hụi chân dây hụi này có 29 chân, tôi đã đóng tới lần thứ 23 với số tiền nếu tôi hốt hai chân hụi sẽ được 92.000.000 đồng
- - Dây hụi thứ hai: Hụi khui ngày 20/08/2022 (AL) hụi tháng, một tháng hụi chết đóng 2.000.000 đồng tôi gia 3 chân hụi với hình thức ai bỏ cao người đó sẽ hốt hụi chân dây hụi này có 30 chân, tôi đã đóng tới lần thứ 19 với số tiền nếu tôi hốt hai chân hụi sẽ được 114.000.000 đồng
- - Dây hụi thứ ba: Hụi khui ngày 09/02/2022 (AL) hụi tháng, một tháng hụi chết đóng 2.000.000 đồng tôi gia 2 chân hụi với hình thức ai bỏ cao người đó sẽ hốt hụi chân dây hụi này có 26 chân, tôi đã đóng tới lần thứ 13 với số tiền nếu tôi hốt hai chân hụi sẽ được 52.000.000 đồng
- - Dây hụi thứ tư: Hụi khui ngày 15/03/2022 (AL) hụi tháng, một tháng hụi chết đóng 2.000.000 đồng tôi gia 1 chân hụi với hình thức ai bỏ cao người đó sẽ hốt hụi chân dây hụi này có 30 chân, tôi đã đóng tới lần thứ 24 với số tiền nếu tôi hốt một chân hụi sẽ được 48.000.000 đồng.
- - Dây hụi thứ năm: Hụi khui ngày 02/05/2022 (AL) hụi tháng, một tháng hụi chết đóng 2.000.000 đồng tôi gia 2 chân hụi với hình thức ai bỏ cao người đó sẽ hốt bụi chân dây hụi này có 16 chân, tôi đã đóng tới lần thứ 09 với số tiền tôi hốt hai chân hụi sẽ được 36.000.000 đồng
- Dây hụi thứ sáu: Hụi khui ngày 15/10/2022 (AL) hụi ngày, một ngày hụi chết đóng 120.000 đồng tôi gia 2 chân hụi với hình thức ai bỏ cao người đó sẽ hốt hụi chân dây hụi này có 115 chân, tôi đã đóng tới lần thứ 115 với số tiền nếu tôi hốt hai chân hụi sẽ được 27.600.000 đồng.
Đến ngày 15 tháng 3 năm 2024 thì bà Kiều Thu N tuyên bố bể hụi dù hụi này chưa có mãn.
* Tổng cộng 06 dây hụi bà Kiều Thu N còn thiếu tôi là 369.000.000
- - Dây hụi ngày 15/03/2022 thì tôi còn thiếu bà Kiều Thu N số tiền hụi là 10.000.000 đồng.
- - Dây hụi ngày 02/05/2022 thì tôi còn thiếu bà Kiều Thu N số tiền hụi là 34.000.000 đồng.
- Dây hụi mùa tôi còn thiếu bà Kiều T1 Năm số tiền là 45.000.000 đồng mà tôi đã hốt.
Tổng số tiền hụi tôi còn thiếu bà Kiều Thu N là 89.000.000 đồng.
Sau khi đối trừ đi số tiền hụi bà Kiều Thu N phải trả cho tôi và tôi trả cho bà Kiều Thu N thì bà Kiều Thu N còn thiếu tôi là 369.000.000 đồng 89.000.000 đồng = 280.000.000 đồng.
* Sau đó thì bà Kiều Thu N có hỏi vay của tôi bảy lần cụ thể như sau:
- Ngày 09/11/2022 thì bà Kiều Thu N vay của tôi số tiền là 50.000.000
- Ngày 23/03/2023 thì bà Kiều Thu N vay của tôi số tiền là 30.000.000 đồng.
- Ngày 20/10/2023 thì bà Kiều Thu N vay của tôi số tiền là 10.000.000 đồng.
- Ngày 22/12/2023 thì bà Kiều Thu N vay của tôi số tiền là 15.000.000 đồng.
- Ngày 22/01/2024 thì bà Kiều Thu N vay của tôi số tiền là 15.000.000
- Ngày 22/02/2024 thì bà Kiều Thu N vay của tôi số tiền là 15.000.000
- Ngày 22/05/2024 thì bà Kiều Thu N vay của tôi số tiền là 100.000.000
Tổng cộng 07 lần vay thì bà Kiều Thu N còn thiếu tôi số tiền là 235.000.000 đồng (hai trăm ba mươi lăm triệu đồng).
Đến ngày 26/06/2024 thì tôi làm đơn thưa bà Kiều Thu N đến ban lãnh đạo ấp M, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang nay là ấp M, xã S, tỉnh An Giang để yêu cầu giải quyết thì được BLĐ ấp Mỹ Thái giải quyết thì bà Kiều Thu N thừa nhận còn thiếu tôi số tiền hụi và vay là 306.000.000 đồng thì tôi không đồng ý. Từ khi được giải quyết đến nay thì tôi đã nhiều lần liên hệ với bà Kiều Thu N để yêu cầu trả tiền hụi thì bà Kiều Thu N không đồng ý trả cho tôi.
Nên nay tôi yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 4 – An Giang giải quyết cho tôi như sau:
- Buộc bà Kiều Thu N trả cho tôi số tiền hụi của 06 dây hụi là 280.000.000 đồng (hai trăm tám mươi triệu đồng)
- Buộc bà Kiều Thu N trả cho tôi số tiền vay cuar 07 lần vay là 235.000.000 đồng (hai trăm ba mươi lăm triệu đồng) và yêu cầu tính lãi từ ngày 22/05/2024 đến ngày 22/10/2025 là 17 tháng với lãi suất là 1.66%/tháng (235.000.000 đồng x 17 tháng x 1.66%/tháng = 52.547.000 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi từ ngày 23/10/2025 đến khi giải quyết xong vụ án. Gốc và lãi là 287.547.000 đồng
Tổng cộng tiền hụi và tiền vay đến ngày 22/10/2025 là 567.547.000 đồng (Năm trăm sáu mươi bảy triệu năm trăm bốn mươi bảy nghìn đồng) (trong đó hụi là 280.000.000 đồng và tiền vay gốc và lãi là 287.547.000 đồng.
* Trong thời gian thụ lý vụ án, bị đơn bà Kiều Thu N trình bày:
Tôi thừa nhận cô T có tham gia chơi hụi của tôi 10 chân hụi tháng 2.000.000 đồng và 1 dây hụi ngày như trình bày của cô T.
Do nhiều tay em không đóng hụi chết cho tôi nên tôi tràn hụi không nổi nên tuyên bố bể hụi. Nay tôi chỉ đồng ý trả lại số tiền gốc cô T đã đóng các chân hụi tổng cộng là 214.380.000 đồng (tôi đã trừ số tiền hụi chết cô T thiếu tôi).
Ngoài ra tôi có thiếu tiền vay của cô T số tiền 190.000.000 đồng.
Tổng cộng tiền hụi và tiền vay là 306.380.000 đồng.
Nay tôi đồng ý trả nhưng phải chờ tôi bán được đất tôi mới có tiền trả cô T.
Tôi đang kêu bán đất ở A và kêu bán đất ở xã A, tỉnh An Giang.
* Tại phiên toà: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền hụi và tiền vay 567.547.000 đồng. Xét thấy đây là quan hệ tranh chấp hợp đồng góp hụi và vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bị đơn có địa chỉ cư trú tại xã S, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 4 - An Giang theo quy định điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS 2015.
[2] Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận định:
Tại phiên hoà giải ngày 05/12/2025, các bên đương sự đều thống nhất việc bà Trần Thị T có tham gia chơi hụi của bà Kiều Thu N là 10 chân hụi tháng, mỗi chân 2.000.000 đồng và 01 dây hụi ngày 100.000 đồng/ngày. Trong thời gian chơi hụi, bà N tuyên bố bể hụi do không thu được tiền của các hụi viên đã hốt hụi. Việc chơi hụi của bà Trần Thị T không được theo dõi cụ thể số tiền bà đã đóng thực tế cho bà N là bao nhiêu. Do đó tại phiên toà sơ thẩm, bà T đồng ý với số tiền bà N thừa nhận tại buổi hoà giải là 306.380.000 đồng nên HĐXX ghi nhận. Do bà N không thực hiện đúng nghĩa vụ của chủ hụi cũng như nghĩa vụ phải trả tiền vay nên bà T khởi kiện yêu cầu bà N có trách nhiệm trả số tiền hụi và tiền vay cho bà là có căn cứ để chấp nhận, phù hợp với quy định của pháp luật.
Bà T rút yêu cầu đối với số tiền còn lại nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ những cơ sở trên, sau khi thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị T.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 39, Điều 147, Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Áp dụng Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị T.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Buộc bà Kiều Thu N có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị T số tiền 306.380.000 đồng (Ba trăm linh sáu triệu, ba trăm tám mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án hợp pháp khoản tiền trên, người phải thi hành án chậm thi hành án thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm thi hành được xác định theo khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Bà Kiều Thu N phải chịu 15.319.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Hoàn trả cho bà Trần Thị T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 13.351.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0008894 ngày 17/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự đã được sửa đổi bổ sung năm 2014./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cúc |
Bản án số 312/2025/DSST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – AN GIANG về tranh chấp hợp đồng góp hụi và vay tài sản
- Số bản án: 312/2025/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng góp hụi và vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG GÓP HỤI VÀ VAY TÀI SẢN
