|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 312/2024/HS-ST Ngày 12-12-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Lý Thị Thiên Nga
Ông Vũ Văn Khang
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Thuỷ - Thẩm tra viên Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Đoàn Đình Hưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 301/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 778/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:
- Vũ Khắc B, sinh ngày 25 tháng 10 năm 1999 tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: Thôn A C, xã D, huyện V, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: Lô A Đà Nẵng, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Khắc L và bà Vũ Thị L1; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 16/5/2024, tạm giam ngày 24/5/2024; có mặt.
- Phạm Minh T, sinh ngày 07 tháng 3 năm 2004 tại Cà Mau; nơi ĐKTT: Khóm F thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; nơi sinh sống: Căn hộ S tầng A Chung cư H, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Minh D và bà Tạ Kim C; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 16/5/2024, tạm giam ngày 24/5/2024; có mặt.
- Nguyễn Thị T1, sinh ngày 10 tháng 4 năm 1991 tại Thanh Hoá; nơi ĐKHKTT: T, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; nơi sinh sống: Căn hộ S tầng A Chung cư C, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đăng M và bà Văn Thị T2; có chồng là Lương Văn H (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 16/5/2024, tạm giam ngày 24/5/2024; có mặt.
- Nguyễn Thị T3, sinh ngày 20 tháng 8 năm 1991 tại Thanh Hoá; nơi ĐKHKTT: T, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; nơi sinh sống: Căn hộ S tầng A Chung cư C, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Viên Thị N; có chồng là Lưu Công N1 (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 16/5/2024, tạm giam ngày 24/5/2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 15/5/2024, Công an phường Đ kiểm tra bắt quả tang tại căn hộ S, chung cư H, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng, các đối tượng Vũ Khắc B, Nguyễn Thị T1, Phạm Minh T và Nguyễn Thị T3 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ tại sàn phòng ngủ: 01 đĩa sứ đường kính khoảng 15cm có chứa chất bột màu trắng (mẫu QT1), 01 ống hút cuộn bằng tờ tiền 10.000 đồng bên trong có bám dính chất bột màu trắng (mẫu QT2), 01 gói giấy bằng tờ tiền 5.000 đồng chứa tinh thể màu trắng (mẫu QT3), 01 túi nilon kích thước khoảng 2x2 cm chứa 02 viên nén màu xám (mẫu QT4), 01 thẻ nhựa màu xanh kích thước 5x8cm, 01 xe mô tô Honda Vision BKS 15B3-265.73 và 04 điện thoại di động (gồm: 01 điện thoại Iphone 15 Pro max màu xám, lắp sim số 0843.595.091 của Nguyễn Thị T1; 01 điện thoại Redmi 9T màu xanh, lắp sim số 0794849173 của Vũ Khắc B; 01 điện thoại Realme của Nguyễn Thị T3; 01 điện thoại Iphone màu vàng, lắp sim số 0838028487 của Phạm Minh T).
- Khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị T1, Phạm Minh T và Nguyễn Thị T3 tại căn hộ S tầng A Chung cư H, phường Đ, N, thu giữ: 01 đèn nháy và 01 loa nghe nhạc.
- Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu ngày 16/5/2024 của Vũ Khắc B, Phạm Minh T và Nguyễn Thị T3 đều dương tính với test thử chất ma túy MDMA và Ketamine; Riêng nước tiểu của Nguyễn Thị T1 âm tính với test thử chất ma túy.
- Kết luận giám định số 602 ngày 21/5/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H, kết luận:
Chất bột màu trắng của mẫu QT1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,41 gam, loại Ketamine;
Chất bột màu trắng bám dính trong ống cuộn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng của mẫu QT2 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine. Không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma túy bám dính trên;
Tinh thể màu trắng của mẫu QT3 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,19 gam, loại Ketamine;
02 viên nén màu xám của mẫu QT4 gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,76 gam, loại Methamphetamine, MDMA và Ketamine.
- Kết luận giám định số 8339 ngày 06/11/2024 của V - Bộ C2, kết luận: Hàm lượng các chất ma túy Methamphetamine và MDMA trong mẫu QT4 gửi giám định lần lượt là 2,8% và 35,0%. Vậy, 02 viên nén màu xám (đã nghiền thành bột để giám định) của mẫu QT4 có khối lượng: 0,76 gam, tính được khối lượng các chất ma túy Methamphetamine, MDMA và Ketamine lần lượt là: 0,02128 gam; 0,266 gam và 0,47272 gam.
Quá trình điều tra, Nguyễn Thị T1, Vũ Khắc B, Phạm Minh T và Nguyễn Thị T3 khai nhận:
Ngày 24/3/2024, Nguyễn Thị T1 và Phạm Minh T thống nhất ký hợp đồng thuê căn hộ số 1722, tầng A, chung cư H H, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng của chị Phạm Thị Thúy A (sinh năm 1990, trú tại xã C, huyên T, thành phố H), trong đó T là người đứng tên ký hợp đồng, còn T1 là người trả tiền thuê nhà cho chị A để T1, T và bạn của T1 là T3 ở cùng.
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 15/5/2024, T1, T, T3 đang ở nhà thì T1 gọi điện cho Vũ Khắc B mua 02 bình khí cười để cả nhóm sử dụng. Khi đi giao 02 bình khí cười thì B có mang theo 01 viên ma túy thuốc lắc màu xám giấu trong túi quần để sử dụng, khi B gặp T1 giao khí cười thì T1 hỏi mua của B 02 gam ma túy Ketamine và 02 viên ma túy thuốc lắc để nhóm của T1 sử dụng, B đồng ý điều khiển xe mô tô Honda Vision BKS 15B3 – 265.73 đi mua ma túy, còn T1, T, T3 vào phòng ngủ sử dụng bóng cười. Trên đường đi có người đàn ông tên C1 (chưa rõ lai lịch) gọi điện hỏi mua của B 01 gam Ketamine và 01 viên ma túy thuốc lắc, B đồng ý rồi đến khu vực ngã ba bốt tròn, thuộc quận L mua của đối tượng N1 (chưa rõ lai lịch) 03 gam Ketamine (giá 1.000.000 đồng/ gam) và 03 viên ma túy thuốc lắc (với giá 280.000 đồng/ 01 viên ma túy), tổng cộng 3.840.000 đồng). Bắc yêu cầu N1 chia số ma túy thành 02 đơn hàng, gồm: 01 túi chứa 01 gam Ketamine, 01 viên ma túy thuốc lắc để bán cho C1; 01 túi chứa 02 gam Ketamine và 02 viên ma túy thuốc lắc để bán cho T1. Đồng thời, B gọi điện báo giá cho T1 là 02 gam Ketamine giá 2.400.000 đồng và 02 viên ma túy thuốc lắc là 600.000 đồng (nếu bán trót lọt thì B hưởng lời 440.000 đồng), T1 đồng ý. Sau đó, N1 bán cho B 01 túi nilon kích thước 2x2cm bên trong chứa 01 gam ma túy Ketamine và 01 viên ma túy thuốc lắc màu xám (đơn hàng bán cho C1); 01 gói giấy bằng tờ tiền 5000 đồng chứa 02 gam ma túy Ketamine và 01 túi nilon kích thước 2x2cm chứa 02 viên ma túy thuốc lắc màu xám (đơn hàng bán cho T1). Bắc nhận ma túy N1 đưa cất giấu vào túi quần và hẹn sẽ trả tiền cho N1 sau, N1 đồng ý.
Mua được ma túy, B điều khiển xe đi đến khu vực đường B A, huyện A bán cho C1 01 gam Ketamine và 01 viên ma túy thuốc lắc với giá 1.550.000 đồng, C1 chưa trả tiền cho B. Sau đó, B quay lại nhà T1, khi B đang đi thì nhận được cuộc gọi qua zalo của T1 báo là không mua ma túy nữa, B đồng ý. Nhưng do đã mua được ma túy nên B có ý định vào nhà T1 bỏ một phần ma túy ra mời nhóm T1 sử dụng, còn một phần Bắc mang về trả lại N1. Khi đến nơi, trong nhà T1 có T3, T và T1 ngồi trong phòng ngủ, B nói với nhóm T1 “Có ma túy đây mời mọi người sử dụng”. Bắc bỏ 01 viên ma túy thuốc lắc (mang theo từ nhà) ra mời T3 sử dụng, T3 cầm viên ma túy thuốc lắc bẻ đôi rồi tự sử dụng nửa viên bằng cách uống với nước vào cơ thể, còn nửa viên T3 đưa cho T sử dụng như cách thức T3 dùng. Sau đó, B vào bếp lấy 01 đĩa sứ mang ra giường chỗ nhóm T1 ngồi, bóc gói Ketamine gói bằng tờ tiền 5000 đồng đổ ra đĩa sứ một phần để mời nhóm T1 sử dụng, phần Ketamine còn lại B gói kín và 02 viên thuốc lắc trong túi nilon B để cạnh vị trí B ngồi mục đích để trả lại cho N1. Bắc dùng thẻ nhựa màu xanh của B mang theo miết mịn Ketamine thành bột, kẻ thành các đường nhỏ, rồi lấy một tờ tiền 10.000 đồng của B cuộn thành ống hút rồi hít bột ma túy vào cơ thể. Dùng ma túy xong, B đưa đĩa Ketamine và ống hút cho T3 sử dụng ma túy như cách B vừa sử dụng. Tuyến sử dụng xong, B cầm đĩa Ketamine mời T1 sử dụng, nhưng T1 từ chối không sử dụng, nên B đưa đĩa Ketamine cho T sử dụng như cách B và T3 vừa sử dụng. Khi T sử dụng ma túy xong thì đưa lại đĩa Ketamine cho B cầm đặt xuống sàn nhà, cả nhóm ngồi nghe nhạc và sử dụng Ketamine thì Công an phường Đ vào kiểm tra, bắt quả tang.
Ngoài ra, B còn khai trước đó có tự sử dụng ma túy thuốc lắc.
Kết quả giám định điện thoại của Vũ Khắc B và kiểm tra điện thoại của Nguyễn Thị T1, Phạm Minh T và Nguyễn Thị T3 không phát hiện dữ liệu điện tử, tin nhắn nào khác liên quan đến vụ án.
Bản cáo trạng số 303/CT-VKSNQ ngày 07/11/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền đã truy tố bị cáo Vũ Khắc B về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Phạm Minh T, Nguyễn Thị T1 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; Nguyễn Thị T3 về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
- Kiểm sát viên tại phiên tòa: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Khắc B mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, mức án từ 08 năm đến 09 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Vũ Khắc B chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là từ 11 năm đến 12 năm 06 tháng tù.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T1 mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Minh T mức án từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm 06 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.
Căn cứ khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T3 mức án từ 30 đến 36 tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ vật chứng là 01 bì giấy dấu niêm phong số 8339/KL-KTHS bên trong chứa đối tượng sau giám định hàm lượng (mẫu QT4), các mẫu không yêu cầu giám định hàm lượng trong bì giấy dấu niêm phong số 602MT/PC09 bên trong chứa 0,29 gam ma túy của mẫu QT1; 0,10 gam ma túy của mẫu QT3, cùng 01 đĩa sứ của mẫu QT1 và vỏ bao gói của mẫu QT4 hoàn lại sau giám định; 01 thẻ nhựa màu xanh kích thước 5x8 cm, 01 đèn nháy; tịch thu sung ngân sách Nhà nước là 01 bì giấy dấu niêm phong số 602MT-A/PC09 bên trong chứa 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 10.000 đồng của mẫu QT2 và 01 tờ tiền giấy mệnh giá 5.000 đồng của mẫu hoàn lại sau giám định; 01 loa nghe nhạc, 01 điện thoại Iphone 15 Pro max màu xám, lắp sim số 0843.595.091 của Nguyễn Thị T1; 01 điện thoại Redmi 9T màu xanh, lắp sim số 0794849173 của Vũ Khắc B; trả lại cho bị cáo T3 01 điện thoại Realme; trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại Iphone màu vàng, lắp sim số 0838028487.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo khai báo phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, nội dung bản cáo trạng và và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 22 giờ 15 phút ngày 15/5/2024, tại căn hộ S, chung cư H, phường Đ, quận N, thành phố Hải Phòng. Vũ Khắc B có hành vi chuẩn bị ma túy thuốc lắc và K, ống hút cuộn bằng tờ tiền 10.000 đồng, đưa viên ma túy thuốc lắc cho T3 sử dụng, đánh mịn Ketamine trên đĩa sứ để T, T3 và B sử dụng; Phạm Minh T, Nguyễn Thị T1 có hành vi chuẩn bị địa điểm để B, T, T3 sử dụng trái phép chất ma túy; T3 có hành vi đưa ½ viên ma túy thuốc lắc cho T sử dụng. Khối lượng Ketamine các bị cáo đang sử dụng thu giữ được là 0,41 gam. Do đó, các bị cáo Vũ Khắc B, Phạm Minh T, Nguyễn Thị T1 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Đối với 02 người trở lên” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Thị T3 phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
[3] Ngoài ra, B còn có hành vi cất giữ khối lượng 0,19 gam Ketamine và 02 viên ma túy thuốc lắc có khối lượng 0,76 gam (trong đó: Methamphetamine là 0,02128 gam, MDMA là 0,266 gam và K là 0,47272 gam) mục đích để bán. Tổng khối lượng ma túy Methamphetamine, MDMA là 0,28728 gam, tổng khối lượng Ketamine là 0,66272 gam. Tổng tỉ lệ phần trăm về khối lượng của M1, MDMA và Ketamine so với mức tối thiểu đối với từng chất đó được quy định tại khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là 5,7456% + 3,3136% = 9,0592% thuộc trường hợp dưới 100%. Do đó, bị cáo Vũ Khắc B phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
- [4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên cần xét xử nghiêm nhằm mục đích giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
- [5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- [6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Riêng bị cáo Phạm Minh T có ông nội tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhì, bị cáo T1 có mẹ là thương binh hạng ¾, tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhì, huy chương chiến sỹ giải phóng và bố tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhất, được cấp giấy chứng nhận người tham gia hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hoá học nên bị cáo T và T1 còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- [7] Về vai trò trong đồng phạm:
Đối với tội Mua bán trái phép chất ma tuý, bị cáo B thực hiện hành vi độc lập, không có đồng phạm.
[8] Đối với tội Tổ chức trái phép chất ma tuý, đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó: Bị cáo B có hành vi cung cấp chất ma tuý, ống hút cuộn bằng tờ tiền 10.000 đồng, đưa viên ma túy thuốc lắc cho T3 sử dụng, đánh mịn Ketamine trên đĩa sứ để T, T3 và B sử dụng; Bị cáo Phạm Minh T, Nguyễn Thị T1 có hành vi chuẩn bị địa điểm để B, T, T3 sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo T3 có hành vi đưa ½ viên ma túy thuốc lắc cho T sử dụng. Do đó, bị cáo B có vai trò cao nhất, các bị cáo T, T1 có vai trò ngang nhau nhưng thấp hơn B; bị cáo T3 có vai trò thấp nhất.
- [9] Về hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo T3 là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo B, T, T1 là rất nghiêm trọng nên cần thiết phải buộc các bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
- [10] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không cần thiết bắt các bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 và khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
- [11] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Cần tịch thu tiêu huỷ vật chứng là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, là công cụ dùng vào việc phạm tội là 01 phong bì niêm phong số 8339/KL-KTHS bên trong chứa đối tượng sau giám định hàm lượng (mẫu QT4), các mẫu không yêu cầu giám định hàm lượng trong bì giấy dấu niêm phong số 602MT/PC09 bên trong chứa 0,29 gam ma túy của mẫu QT1; 0,10 gam ma túy của mẫu QT3, cùng 01 đĩa sứ của mẫu QT1 và vỏ bao gói của mẫu QT4 hoàn lại sau giám định (Niêm phong dán kín sau giám định); 01 thẻ nhựa màu xanh kích thước 5x8 cm, 01 đèn nháy; tịch thu sung ngân sách Nhà nước vật chứng công cụ phương tiện sử dụng vào việc phạm tội là 01 bì giấy dấu niêm phong số 602MT-A/PC09 bên trong chứa 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 10.000 đồng của mẫu QT2 và 01 tờ tiền giấy mệnh giá 5.000 đồng của mẫu hoàn lại sau giám định (Niêm phong dán kín sau giám định); 01 loa nghe nhạc, 01 điện thoại Iphone 15 Pro max màu xám, lắp sim số 0843.595.091 thu giữ của Nguyễn Thị T1; 01 điện thoại Redmi 9T màu xanh, lắp sim số 0794849173 thu giữ của Vũ Khắc B đã qua sử dụng, không kiểmtra chất lượng đựng trong phong bì niêm phong dán kín số KL-2758 có dấu niêm phong của Phòng K1 - Công an thành phố H và chữ ký của những người liên quan; trả lại 01 điện thoại Realme cho Nguyễn Thị T3; 01 điện thoại Iphone màu vàng, lắp sim số 0838028487 cho Phạm Minh T do không liên quan đến việc phạm tội.
- [12] Đối với 01 xe mô tô Honda Vision màu trắng nâu đen BKS 15B3-265.73, tên chủ xe là bà Vũ Thị L1 (sinh năm 1966, địa chỉ: thôn C, xã D, huyện V, Hải Phòng) là mẹ đẻ bị can. Bà L1 cho B mượn xe để đi làm, nhưng không biết việc B dùng xe đi mua bán ma túy. Cơ quan điều tra đã quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho bà L1
- [13] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- [14] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
- - Về các vấn đề khác:
[15] Trong vụ án này, theo lời khai của B còn có người bán ma túy tên N1, cũng như trước đó Bắc bán ma túy cho đối tượng C1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N chưa làm rõ được lai lịch, địa chỉ, chưa có căn cứ để xử lý N1, C1 cũng như lần Bắc bán ma túy cho C1.
[16] Đối với chị Phạm Thị Thúy A cho các bị can T, T1 thuê căn hộ số 1722, tầng A, chung cư H, phường Đ, quận N để ở, chị A không biết việc các bị can tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, nên không xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 55, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Khắc B;
căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị T1; căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Minh T; căn cứ khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị T3.
Tuyên bố:
Bị cáo Vũ Khắc B phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Mua bán trái phép chất ma tuý.
Bị cáo Nguyễn Thị T1, Phạm Minh T, Nguyễn Thị T3 phạm tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
Xử phạt:
Bị cáo Vũ Khắc B 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Vũ Khắc B chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/5/2024.
Bị cáo Phạm Minh T 08 (tám) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/5/2024.
Bị cáo Nguyễn Thị T1 08 (tám) năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/5/2024.
Bị cáo Nguyễn Thị T3 36 (ba mươi sáu) tháng tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16/5/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ vật chứng là 01 bì giấy dấu niêm phong số 8339/KL-KTHS bên trong chứa đối tượng sau giám định hàm lượng (mẫu QT4), các mẫu không yêu cầu giám định hàm lượng trong bì giấy dấu niêm phong số 602MT/PC09 bên trong chứa 0,29 gam ma túy của mẫu QT1; 0,10 gam ma túy của mẫu QT3, cùng 01 đĩa sứ của mẫu QT1 và vỏ bao gói của mẫu QT4 hoàn lại sau giám định; 01 thẻ nhựa màu xanh kích thước 5x8 cm, 01 đèn nháy; tịch thu sung ngân sách Nhà nước là 01 bì giấy dấu niêm phong số 602MT-A/PC09 bên trong chứa 01 tờ tiền Polyme mệnh giá 10.000 đồng của mẫu QT2 và 01 tờ tiền giấy mệnh giá 5.000 đồng của mẫu hoàn lại sau giám định; 01 loa nghe nhạc, 01 điện thoại Iphone 15 Pro max màu xám, lắp sim số 0843.595.091 của Nguyễn Thị T1; 01 điện thoại Redmi 9T màu xanh, lắp sim số 0794849173 của Vũ Khắc B; 01 điện thoại Realme của Nguyễn Thị T3; 01 điện thoại Iphone màu vàng, lắp sim số 0838028487 của Phạm Minh T.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/11/2024 giữa Công an quận N và Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền).
Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Vũ Khắc B, Phạm Minh T, Nguyễn Thị T1, Nguyễn Thị T3 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo bản án:
Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Về quyền yêu cầu thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Huyền |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Lê Bích Thủy |
Vũ Đức Dũng |
Bùi Duy Khoa |
10
Bản án số 312/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 312/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma tuý và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HÌnh sự
