Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 312/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26-11-2024

V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Bê

Bà Nguyễn Thị Phú

Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Loan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà:

Ông Lương Thất Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 221/2024/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 265/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/11/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Đặng Văn P, sinh năm 1987 (vắng mặt)

    Nơi thường trú: Thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (Hiện anh P đang lao động tại nước ngoài không có địa chỉ).

    Người đại diện theo ủy quyền nhận văn bản tố tụng: Bà Lê Thị L, sinh năm 1964; Địa chỉ: Thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang (văn bản ủy quyền ngày 06 tháng 8 năm 2024, không triệu tập).

  2. Bị đơn: Chị Vi Thị H, sinh năm 1993 (vắng mặt)

    Nơi thường trú: Thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

    Địa chỉ: Thôn Nến Bấu, xã Biên Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • Ông Đặng Văn H1, sinh năm 1963 (vắng mặt);
    • Bà Lê Thị L, sinh năm 1964 (vắng mặt);

    Cùng địa chỉ: Thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn anh Đặng Văn P trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: anh và chị Vi Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 22/8/2014 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chung sống với nhau không hạnh phúc, nguyên nhân là do vợ chồng có nhiều bất đồng về quan điểm sống và không có tiếng nói chung. Trong thời gian mâu thuẫn anh và chị H đã nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống với nhau để chăm sóc con nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Mâu thuẫn trầm trọng từ năm 2020 nên anh và chị H không còn quan tâm đến nhau, mỗi người đều có cuộc sống riêng của mình. Anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không hạnh phúc nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh ly hôn với chị Vi Thị H.

Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là cháu Đặng Thị Hải Y, sinh ngày 24/10/2014 và cháu Đặng Duy K, sinh ngày 21/11/2016. Hiện cháu Y và cháu K1 đang sống cùng bố mẹ anh là ông Đặng Văn H1 và bà Lê Thị Lưu . Nay vợ chồng ly hôn anh đề nghị giao cháu Y và cháu K cho anh nuôi dưỡng và đề nghị tạm giao cho ông, bà nội cháu là ông Đặng Văn H1 và bà Lê Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian anh ở nước ngoài. Hằng tháng anh vẫn gửi tiền về cho bố, mẹ anh để nuôi các con, các con của anh sống cùng bố, mẹ anh từ nhỏ cho đến khi anh đi nước ngoài thì các cháu được bố, mẹ anh chăm sóc.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Vợ chồng anh không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra anh P trình bày: Do anh đang lao động tại nước ngoài, anh không thể đến Tòa án để tham gia tố tụng nên anh đề nghị vắng mặt trong các buổi làm việc, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, các phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án nói trên. Anh ủy quyền cho bà Lê Thị L, sinh năm 1964; Địa chỉ: Thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang giao nộp các tài liệu chứng cứ, nộp tiền tạm ứng án phí, nhận các văn bản tố tụng của Tòa án.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 09/10/2024, chị Vi Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh P kết hôn ngày 22/8/2014, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng chị không hợp nhau và không có tiếng nói chung. Vợ chồng chị sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay, hai bên gia đình đã khuyên bảo, động viên để vợ chồng chị hàn gắn tình cảm nhưng không đạt kết quả. Nay chị không còn tình cảm với anh P nữa, anh P xin ly hôn chị đồng ý ly hôn.

Về con chung: Chị và anh P có 02 con chung là cháu Đặng Thị Hải Y, sinh ngày 24/10/2014 và cháu Đặng Duy K, sinh ngày 21/11/2016. Hiện hai cháu đang ở cùng ông Đặng Văn H1, bà Lê Thị L (là ông, bà nội của các cháu). Nay vợ chồng ly hôn chị có nguyện vọng để anh P nuôi cháu Y và cháu K và đồng ý tạm giao cháu Y, cháu K cho ông Đặng Văn H1 và bà Lê Thị L (là ông, bà nội cháu) nuôi dưỡng trong thời gian anh P ở nước ngoài. Hiện nay chị đang đi làm công nhân công ty, phải thuê nhà ở, thu nhập không ổn định nên không đảm bảo các điều kiện để nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị và anh P không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn H1 và bà Lê Thị Lưu trình B:

Ông, bà là bố mẹ của anh Đặng Văn P, hiện nay ông, bà là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Y và cháu K là con của anh P, chị H1. Nay anh P và chị H1 ly hôn, anh P có nguyện vọng nuôi cháu Y, cháu K1 nhưng do anh P đi lao động nước ngoài còn chị H1 về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. Nên ông, bà đồng ý chăm sóc cháu Y và cháu K1 trong thời gian anh P ở nước ngoài cho đến khi anh P về nước. Về cấp dưỡng nuôi cháu Y và cháu K thì ông, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai cháu Đặng Thị Hải Y và Đặng Duy K cùng trình bày:

Hiện nay các cháu đang sống cùng với ông, bà nội tại thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nay, bố mẹ cháu ly hôn cháu có nguyện vọng sống cùng với bố. Trong quá trình sinh sống thì bố và ông, bà nội đối xử tốt với các cháu không có hành vi đánh đập bao giờ.

Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Đặng Văn P, chị Vi Thị H, ông Đặng Văn H1, bà Lê Thị L vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của anh Đặng Văn P, biên bản lấy lời khai chị Vi Thị H, ông Đặng Văn H1, bà Lê Thị L, cháu Đặng Thị Hải Y, cháu Đặng Văn K1 và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.

Về việc chấp hành pháp luật của đương sự: Nguyên đơn anh Đặng Văn P, bị đơn chị Vi Thị H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn H1, bà Lê Thị L. đều có đơn xin xét xử vắng mặt, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

Về hôn nhân: Cho anh Đặng Văn P được ly hôn chị Vi Thị H.

Về nuôi con chung: Giao cháu cháu Đặng Thị Hải Y, sinh ngày 24/10/2014 và cháu Đặng Duy K, sinh ngày 21/11/2016 cho anh Đặng Văn P nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nhưng tạm giao cháu Y và cháu K cho ông Đặng Văn H1, bà Lê Thị L nuôi dưỡng trong thời gian anh P ở nước ngoài.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do các đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Anh Đặng Văn P phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm. Nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền giải quyết, quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Đặng Văn P khởi kiện xin ly hôn chị Vi Thị H và yêu cầu giải quyết nuôi con chung. Theo công văn số: 24455/QLXNC-P3 ngày 17/10/2024 của Cục Q - Bộ C cung cấp, anh P có nhiều lần xuất nhập cảnh, lần nhập cảnh gần nhất là ngày 18/9/2024 và xuất cảnh ngày 30/9/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Vì vậy, đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vụ án có nguyên đơn anh Đặng Văn P hiện nay đang ở nước ngoài, bị đơn chị Vi Thị H có nơi thường trú tại thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2].Về việc vắng mặt các đương sự: Nguyên đơn anh Đặng Văn P, bị đơn chị Vi Thị H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn H1 và bà Lê Thị L đều đề nghị xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh P, chị H1, ông H1, bà L.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Đặng Văn P và chị Vi Thị H kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 22/8/2014 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng anh P, chị H phát sinh mâu thuẫn, anh P xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho anh được ly hôn chị Vi Thị H.

Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Đặng Văn P đối với chị Vi Thị H. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn anh P và chị H chung sống với nhau hạnh phúc đến năm 2020 vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, vợ chồng đã nhiều lần nói chuyện và được hai bên gia đình động viên, khuyên bảo nhưng không thể hàn gắn được. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 cho đến nay, mỗi người đều có cuộc sống riêng của mình, không còn quan tâm đến nhau nữa. Anh P khởi kiện yêu cầu được ly hôn chị Vi Thị H, chị H cũng xác định tình cảm không còn vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 đến nay nên đồng ý yêu cầu ly hôn của anh P. Do đó, Hội đồng xét xử xác định vợ chồng anh P, chị H không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh P đối với chị H, xử cho anh Đặng Văn P được ly hôn chị Vi Thị H như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.

[4]. Về nuôi con chung: Anh P, chị H có 02 con chung là cháu Đặng Thị Hải Y, sinh ngày 24/10/2014 và cháu Đặng Duy K, sinh ngày 21/11/2016. Hiện nay cháu Y và cháu K đang sinh sống cùng ông, bà nội là ông H và bà L. Sau khi ly hôn anh P, chị H đều có nguyện vọng giao cháu Y và cháu K cho anh P nuôi dưỡng. Do anh P đang ở nước ngoài, chị H đi làm Công ty chỗ ở và điều kiện không đảm bảo nên anh P, chị H đề nghị tạm giao cháu Y và cháu K cho ông Đặng Văn H1, bà Lê Thị L nuôi dưỡng, chăm sóc trong thời gian anh P ở nước ngoài.

Xét yêu cầu của anh Đặng Văn P, Hội đồng xét xử thấy: Hiện nay con chung đang sống cùng với ông H1 và bà L, các cháu phát triển bình thường cả về thể chất lẫn tinh thần. Chị H1 hiện đang đi làm công nhân ở Công ty, phải thuê nhà ở, thu nhập không ổn định nên không đảm bảo điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc cho con chung. Anh P và chị H1 đều đề nghị giao con chung cho anh P chăm sóc, nuôi dưỡng và tạm giao cháu Y, cháu K cho ông H1, bà L nuôi dưỡng trong thời gian anh P ở nước ngoài. Cháu Y, cháu K trên 07 tuổi cũng có nguyện vọng được sống cùng với anh P và ông H1, bà L nếu bố, mẹ ly hôn. Vì vậy, căn cứ vào điều kiện thực tế và để đảm bảo quyền, lợi ích mọi mặt của cháu Y, cháu K cũng như nguyện vọng của các con chung. Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận yêu cầu của anh P và ý kiến đề nghị của chị H1, giao cho anh Đặng Văn P nuôi dưỡng cháu Đặng Thị Hải Y, sinh ngày 24/10/2014 và cháu Đặng Duy K, sinh ngày 21/11/2016 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi theo quy định pháp luật sau khi ly hôn. Do hiện nay anh P đang ở nước ngoài nên tạm giao cháu Y, cháu K cho ông Đặng Văn H1 và bà Lê Thị L nuôi dưỡng cho đến khi anh Đặng Văn P về Việt Nam sinh sống như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ theo quy định tại Điều 104 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Sau khi ly hôn chị Vi Thị H không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở chị H thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.

[5]. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do anh P, chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6].Về tài sản, công nợ chung: Anh P, chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7].Về án phí: Anh Đặng Văn P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

[8]. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn anh Đặng Văn P đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn chị Vi Thị H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn H1, bà Lê Thị L đang ở trong nước vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

  1. Về hôn nhân: Anh Đặng Văn P được ly hôn chị Vi Thị H.
  2. Về nuôi con chung: Giao cháu Đặng Thị Hải Y, sinh ngày 24/10/2014 và cháu Đặng Duy K, sinh ngày 21/11/2016 cho anh Đặng Văn P nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Nhưng tạm giao cháu Đặng Thị Hải Y, cháu Đặng Duy K cho ông Đặng Văn H1 và bà Lê Thị L nuôi dưỡng trong thời gian anh Đặng Văn P ở nước ngoài.
  3. Sau khi ly hôn chị Vi Thị H không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở chị H thực hiện quyền này.
  4. Về án phí: Anh Đặng Văn P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000049 ngày 04/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh Đặng Văn P đã nộp xong án phí sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo bản án:

Anh Đặng Văn P có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Chị Vi Thị H, ông Đặng Văn H1, bà Lê Thị L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • -Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • -UBND xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
  • -Cổng thông tin điện tử TAND;
  • -Các đương sự;
  • -Lưu hồ sơ vụ án;
  • -Lưu Tổ HCTР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Hoàng Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 312/2024/HNGĐ-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 312/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi son chung giữa anh P và chị H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger