|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 312/2024/HS-ST Ngày 24-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Hoàn;
- Ông Tô Văn Nhung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Việt Hà, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2024 tại Điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ công an thành phố D xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 314/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 325/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Thái Thanh B (tên gọi khác M), sinh năm 1998 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Số A khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Lớp 8/12; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; con ông Thái Ngọc H, sinh năm 1977 và bà Trần Thị H1, sinh năm 1978; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thúy A, sinh năm 1999 và 01 con, sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- + Ngày 31/8/2017 bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương xử phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt ngày 17/7/2018, đã xóa án tích;
- + Ngày 20/12/2019 bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An (nay là thành phố D), tỉnh Bình Dương Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 18 (mười tám) tháng, ngày 28/4/2021 thì chấp hành xong.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 10/6/2024 đến nay (có mặt).
- Người chứng kiến:
- Anh Đào Duy T, sinh năm 1995 (vắng mặt);
- Anh Đặng Thanh M1, sinh năm 1996 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 10/6/2024, B đang chơi game tại tiệm I, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Tại đây, B gặp một người tên Đ (chưa rõ nhân thân, lai lịch) cũng đang chơi game. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên B nhờ Đ đặt mua giúp 300.000 đồng ma túy đá thì Đ đồng ý. Đ lấy điện thoại gọi cho một người tên H2 (chưa rõ nhân thân, lai lịch). Sau đó, Đ nói: “B chạy ra tại khu vực bồn cây công viên đường trên đường N, khu phố N, phường D, thành phố D để nhận ma túy”.
Do không có xe nên B nhờ một người thanh niên (chưa rõ nhân thân lai lịch) cũng đến chơi game tại tiệm Internet “H” chở B đến khu vực bồn cây công viên đường N. Khi đến điểm hẹn, B đứng chờ khoảng 5 phút thì có một người đàn ông (tên H2 khoảng 40 tuổi, nói giọng miền N, dáng người cao to) điều khiển xe môtô nhãn hiệu Airblade màu đen (không rõ biển số) đến giao cho B 02 đoạn ống hút màu xanh - trắng, hàn kín hai đầu, bên trong có chứa ma túy đá. B nhận ma túy rồi cất vào túi quần và trả cho người này số tiền 300.000 đồng. Sau đó, B nhờ người thanh niên chở quay lại tiệm Internet “H”. Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, B đứng trước tiệm Internet “Hoàng N” thì bị lực lượng tổ tuần tra Công an phường D phát hiện B tàng trữ ma túy trong túi quần đùi bên trái của B nên tổ tuần tra niêm phong và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đưa B cùng với tang vật về trụ sở làm việc.
Đối với đối tượng tên H2 đã bán ma túy cho B và đối tượng tên Đ gọi điện thoại mua ma túy giúp cho B, hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục xác minh, xử lý sau.
* Kết luận giám định số 2799/KL-KTHS(MT) ngày 19/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận đối tượng giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,5013 gam.
Bản Cáo trạng số 311/CT-VKS-DA ngày 01 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Thái Thanh B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, trong phần tranh tụng đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù.
2
* Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư niêm phong ghi số 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 2799/PC09 bên trong chứa M= 0,4346 gam ma túy, loại Methamphetamine, là mẫu vật còn lại sau giám định.
Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử lý vật chứng đồng thời trong lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về căn cứ xác định bị cáo phạm tội: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 10/6/2024 trước cửa tiệm I, địa chỉ: khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Thái Thanh B đã có hành vi cất giấu 0,5013 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi của Thái Thanh B là đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Do đó, Cáo trạng số 311/CT-VKS-DA ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát thành phố D, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo cũng như bản luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét trong quá trình tố tụng bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[6] Về nhân thân: Bị cáo là người nghiện ma túy, có nhân thân xấu, bị Tòa án xét xử về tội xâm phạm quyền sở hữu và áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính cai nghiện bắt buộc.
3
[7] Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma tuý, bị cáo là người nghiện ma túy, hành vi phạm tội của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, áp dụng phạt tù cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng: 01 (một) bì thư niêm phong ghi số 2799/PC09 bên trong chứa M= 0,4346 gam ma túy, loại Methamphetamine, là mẫu vật còn lại sau giám định là vật cấm lưu thông nên cần tịch thu tiêu hủy.
[9] Đối với đối tượng tên H2 đã bán ma túy cho B và đối tượng tên Đ gọi điện thoại mua ma túy giúp cho B, hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D tiếp tục xác minh, xử lý sau là phù hợp.
[10] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố D, tỉnh Bình Dương đưa ra về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, cũng như việc xử lý vật chứng là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận. Về mức hình phạt là nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt thấp hơn Viện kiểm sát đề nghị.
[11] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Thái Thanh B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Xử phạt bị cáo Thái Thanh B 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 10/6/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 89; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư niêm phong ghi số 2799/PC09 bên trong
4
chứa M= 0,4346 gam ma túy, loại Methamphetamine.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Bị cáo Thái Thanh B phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thị Trung Hiếu |
5
Bản án số 312/2024/HS-ST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 312/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thái Thanh Bình bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
