|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 312/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 20/8/2024
“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Thà
Ông Nguyễn Đức Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Phong - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 142/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 350/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 240/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Lê Văn S, sinh năm 1988,
Địa chỉ: Khu B, phường P, thị xã K, tỉnh Hải Dương
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1988,
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: thôn T, xã N, huyện G, tỉnh Hải Dương. Nơi ở hiện nay: Đài Loan;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hữu X, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1960, địa chỉ: Thôn T, xã N, huyện G, tỉnh Hải Dương.
Anh S, chị H, ông X, bà H1 đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và biên bản lấy lời khai, anh Lê Văn S trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị H tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện K (nay là phường P, thị xã K), tỉnh Hải Dương vào ngày 08/5/2009. Sau khi kết hôn, chị H chuyển về gia đình nhà anh sinh sống cùng gia đình nhà chồng. Năm 2009 anh đi nước ngoài lao động, còn chị H ở nhà nuôi con. Năm 2014 anh về Việt Nam hẳn thì phát hiện chị H không chung thủy với anh nên vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, năm 2015 chị H cùng với con thứ hai bỏ về ở nhà bố mẹ đẻ của chị H. Được gia đình động viên nhưng anh không đồng ý để chị H về chung sống cùng anh. Khi chị H về nhà bố mẹ đẻ thì chị H đi lao động ở Đài Loan anh không được biết nên không nắm được thời gian chị H đi. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị H
- Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung Lê Quang H2, sinh ngày 20/9/2009 và Lê Tùng D, sinh ngày 27/9/2014. Hiện nay cháu H2 đang ở với anh, cháu D đang ở cùng ông bà ngoại tại xã N, huyện G, tỉnh Hải Dương. Ly hôn tôi có nguyện vọng được nuôi dưỡng con H2, còn chị H nuôi dưỡng cháu Tùng D, hai bên không phải cấp dưỡng cho nhau. Do chị H đang ở nước ngoài, chị H nhờ bố mẹ đẻ chăm sóc con chung đến khi chị về nước, anh nhất trí.
- Về tài sản, nợ chung: Anh xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu X và bà Nguyễn Thị H1 (là bố mẹ đẻ chị Nguyễn Thị H) trình bày: Chị H hiện đang làm việc và học tập tại Đài Loan, chị H vẫn thường xuyên liên lạc với gia đình. Chị H có trao đổi với gia đình là anh S có hành vi bạo lực gia đình với chị nên chị mới về nhà ông sinh sống, gia đình cũng động viên để vợ chồng hòa hợp nhưng anh S không đồng ý nên vợ chồng đã sống ly thân trong thời gian hơn 10 năm nay. Chị H đã biết việc anh S có đơn xin ly hôn, quan điểm của chị H không nhất trí ly hôn. Chị H xác định khi nào anh chị làm xong thủ tục giải quyết về tài sản chung vợ chồng thì chị H mới nhất trí ly hôn. Về con chung, chị xác định vợ chồng có 02 con chung như anh S trình bày. Trường hợp ly hôn chị có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu D, còn anh S nuôi dưỡng cháu H2. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cho nhau. Chị H nhờ ông chăm sóc cháu D cho đến khi chị H về nước, ông bà đồng ý. Chị H đang ở nước ngoài nhờ ông bà nhận thay các văn bản tố tụng của Tòa án, ông bà nhất trí.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn anh S đề nghị xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn chị H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông X, bà H1 vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
Đại diện Viện sát nhân dân tỉnh H phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn chấp hành đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình: Xử cho anh Lê Văn S được ly hôn với chị Nguyễn Thị H; Giao cho anh S tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Lê Quang H2, sinh ngày 20/9/2009, chị H được trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Lê Tùng D, sinh ngày 27/9/2014 cho đến khi trưởng thành. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cho nhau. Tạm giao cháu Lê Tùng D cho ông Nguyễn Hữu X, bà Nguyễn Thị H1 chăm sóc trong thời gian chị H ở nước ngoài. Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không phải giải quyết. Về án phí: Anh S phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Anh Lê Văn S có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giải quyết việc ly hôn giữa chị và chị Nguyễn Thị H. Chị H hiện đang làm việc tại Đài Loan. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Trong quá trình giải quyết vụ án, anh S không cung cấp được địa chỉ của chị H tại Đài Loan. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã yêu cầu anh S và gia đình chị H cung cấp địa chỉ nhưng chị H nhưng không cung cấp được. Thông qua gia đình xác định chị H có liên lạc về gia đình, gia đình chị H không cung cấp được địa chỉ của chị H tại Đài Loan. Do vậy, áp dụng Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ.
Tại phiên tòa anh S có quan điểm xin xét xử vắng mặt; chị H, ông X, bà H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh S, chị H, ông X, bà H1.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Văn S và chị Nguyễn Thị H tự do tìm hiểu, tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện K (nay là phường P, thị xã K), tỉnh Hải Dương vào ngày 08/5/2009 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, anh H và chị S đã nảy sinh mâu thuẫn, chị H đã chuyển về nhà bố đẻ để ở. Vợ chồng được gia đình hai bên hòa giải nhưng anh S không đồng ý để chị H về chung sống cùng anh S nên vợ chồng đã sống ly thân được 10 năm. Anh S có đơn xin ly hôn, chị H đang đi lao động ở Đài Loan thông qua gia đình chị H có quan điểm không nhất trí ly hôn do vợ chồng chưa thống nhất giải quyết về tài sản chung, nếu giải quyết xong tài sản thì chị sẽ nhất trí ly hôn. Như vậy lý do chị không đồng ý ly hôn là vì tài sản, chứ không phải vì chị vẫn còn tình cảm mà thực chất quan hệ tình cảm vợ chồng đã không còn.
Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình thì vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng thực tế vợ chồng đã không chung sống cùng nhau, không liên lạc và quan tâm đến nhau trong thời gian 10 năm. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng anh S, chị H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho anh S được ly hôn chị H là phù hợp.
[2.2]. Về quan hệ con chung: Anh S, chị H có 02 con chung Lê Quang H2, sinh ngày 20/9/2009 và Lê Tùng D, sinh ngày 27/9/2014, hiện đang cháu H2 đang ở cùng anh S, còn cháu D ở cùng với gia đình chị H. Anh S và chị H cùng có quan điểm trường hợp ly hôn anh S sẽ nuôi dưỡng cháu H2, còn chị H sẽ nuôi dưỡng cháu Dương
Xét thấy cháu H2 có nguyện vọng ở với bố, cháu D có nguyện vọng ở với mẹ, hai cháu đều đang sinh sống và ở ổn định. Do đó, cần chấp nhận thỏa thuận nuôi con chung của vợ chồng. Giao cháu H2 cho anh S được chăm sóc, nuôi dưỡng, giao cháu D cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung trưởng thành. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cho nhau. Tạm giao cháu D cho ông Nguyễn Hữu X, bà Nguyễn Thị H1 là bố mẹ đẻ của chị H chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị H không ở Việt Nam.
Anh Lê Văn S, chị Nguyễn Thị H được quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Anh S không yêu cầu giải quyết tài sản; còn chị H, theo thông tin phản ánh của gia đình thì chị có ý kiến không đồng ý ly hôn vì lý do chưa giải quyết được tài sản. Tuy nhiên, chị không có văn bản nào gửi cho Toà án để yêu cầu chia tài sản. Như vậy, xác định trong vụ án, các đương sự không có yêu cầu chia tài sản chung nên Toà án không xem xét trong vụ án này, trường hợp chị H có yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng thì vẫn có quyền khởi kiện yêu cầu giải quyết trong vụ án độc lập.
[3] Về án phí: Anh S là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Lê Văn S được ly hôn chị Nguyễn Thị H
- Về con chung: Giao cho anh Lê Văn S được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Lê Quang H2, sinh ngày 20/9/2009, giao cho chị Nguyễn Thị H được trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung Lê Tùng D, sinh ngày 27/9/2014 cho đến khi trưởng thành. Hai bên không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung cho nhau.
Tạm giao cháu Lê Tùng D cho ông Nguyễn Hữu X, bà Nguyễn Thị H1 chăm sóc, nuôi dưỡng trong thời gian chị H chưa về nước không ở Việt Nam.
Anh Lê Văn S, chị Nguyễn Thị H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Anh Lê Văn S phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000542 ngày 25/3/2024 (anh S đã nộp đủ tiền án phí)
- Về quyền kháng cáo: Anh S, ông X, bà H1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Chị H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Cường |
Bản án số 312/2024/HNGĐ-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 312/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: lY HÔN SANG HƯƠNG
