| TAND QUẬN N THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
| Bản án số: 312/2023/HSST | |
| Ngày: 16/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn V
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc S và ông Vương Đình Q
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Chu Bích T
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy D – Kiểm sát viên.
Trong ngày 16/11/2023, tại trụ sở TAND quận N, thành phố H, mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 325/2023/HSST ngày 30/10/2023, đối với bị cáo:
Mai Đăng T, sinh năm 1990; Giới tính: Nam
Nơi ĐKNKTT: Thôn Y, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam
Trình độ học vấn: 05/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do
Con ông Mai Đăng T1 và bà Mai Thị L
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: + Tại bản án số 31 ngày 30/12/2014 bị TAND huyện N, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngay 06/02/2015 nộp xong án phí HSST.
+ Tại bản án số 23 ngày 20/01/2017 bị TAND thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù, ra trại ngày 22/6/2017. Ngày 16/6/2017 nộp án phí HSST.
+ Tại bản án số 04 ngày 09/01/2019 bị TAND huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù, ra trại ngày 11/3/2021. Ngày 25/02/2017 nộp án phí HSST.
Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 18/8/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H; Số giam 4418C2/21 - Có mặt
Người bị hại: Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1991 – Vắng mặt
Nơi ĐKNKTT: Thôn T, xã B, huyện N, tỉnh Nam Định.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo bị VKSND quận N, thành phố H truy tố về hành vi phạm tội như sau: Mai Đăng T không có công việc ổn định, qua giới thiệu của người quen giới thiệu, ngày 08/08/2023, Mai Đăng T đến ở nhờ phòng trọ của anh Nguyễn Văn T2 tại địa chỉ tại ngách A Cầu C, TDP H, T, quận N, Hà Nội, để khi có việc thì đi làm cùng anh T2. Trong quá trình ở nhờ, do T thiếu tiền chi tiêu xài cá nhân nên đã nảy sinh ý định trộm cắp con chó Pitbull của anh T2 để bán lấy tiền. Đến ngày 13/8/2023, T nói với anh T2 là sang G làm và không ở nhờ nhà trọ của anh T2 nữa, anh T2 đồng ý. Ngày 14/8/2023, anh T2 gọi T đi làm công trình ở Quảng Ninh nhưng T không đi. Biết anh T2 đã đi làm xa tại Quảng Ninh và biết chị N đi làm cả ngày, phòng trọ không có ai nên trưa ngày16/08/2023, T đi xe buýt từ G đến phòng trọ của anh T2, để trộm cắp tài sản. Khoảng 14 giờ cùng ngày, T đến nơi và do trong quá trình ở nhờ, T biết vị trí để chìa khóa cổng nên đã tự lấy chìa khóa để mở cổng vào trong nhà. Tại đây, T lấy sợi dây xích để ngoài sân buộc vào cổ con chó Pitbull của anh T2 sau đó T khóa cổng lại như cũ và mang con chó trộm cắp được đến cửa hàng bán thịt chó tại số A đường T, phường T, N (đối diện cổng làng P) để bán nhưng do quán đóng cửa nên T đã nhờ anh Nguyễn Hữu T3 là chủ cửa hàng xe máy bên cạnh gọi điện thoại cho anh Cao Văn H (chủ cửa hàng thịt chó số A đường T) hỏi xem có mua con chó hay không. Anh T3 sau khi gọi điện đã báo lại là anh H đồng ý mua lại con chó với giá là 3.000.000đ, T đồng ý. Anh T3 sau đó đưa 3.000.000đ tiền mặt cho T (số tiền này do anh H chuyển khoản cho anh T3, nhờ T3 trả tiền cho T). Sau khi mua con chó Pitbull của T, anh H nhờ anh Trần Văn D (SN: 1984, HKTT: bản Phiệt, xã B, TP ., Lào Cai) đến mang chó về nhà chăm sóc. Số tiền bán chó, T đã tiêu sài cá nhân hết.
Ngày 16/08/2023, anh Nguyễn Văn T2 sau khi phát hiện bị mất chó cảnh Pitbull nên đã đi tìm và phát hiện con chó của mình hiện đang ở nhà anh D và đã bị chết nên anh T2 đã đến cơ quan Công an trình báo sự việc.
Ngày 18/8/2023, Mai Đăng T đến Công an phường T, N, Hà Nội để đầu thú.
Tại bản kết luận định giá số 206 ngày 11/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận N, xác định: 01 con chó cảnh, loại chó Pitbull, lông màu nâu đỏ, nặng 42 kg còn sống (không thu được vật chứng), giá trị 7.000.000đ.
Tại bản cáo trạng số 314/CT-VKSNTL ngày 26/10/2023 của VKSND quận N, thành phố H đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.
Kết thúc phần tranh tụng; Tại phần tranh luận, đại diện VKS đọc bản luận tội đối với bị cáo. Nội dung bản luận tội đã phân tích nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo; Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo và khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS; Đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù. Buộc bị cáo nộp lại 3.000.000đ tiền do phạm tội mà có sung công quỹ Nhà nước. Về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự đề nghị không xem xét.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng số 314 ngày 26/10/2023 của VKSND quận N đã truy tố bị cáo. Bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố và lời luận tội của đại diện VKS đối với bị cáo tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện VKS. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Người bị hại đã được triệu tập hợp nhưng vắng mặt. Trong giai đoạn điều tra những người bị hại đã có lời khai thể hiện: Về trách nhiệm dân sự không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Về hình phạt đề nghị xét xử theo pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, HĐXX nhận định: Khoảng 14 giờ ngày 16/8/2023, tại ngách A Cầu C, TDP Hạnh, phường T, quận N, Hà Nội, Mai Đăng T đã có hành vi trộm cắp 01 con chó, loại chó Pitbull, lông màu nâu đỏ, giá trị 7.000.000đ của anh Nguyễn Văn T2. Hậu quả chưa được khắc phục, người bị hại không yêu cầu bồi thường.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
Xét cáo trạng truy tố và lời trình bày luận tội của đại diện VKS tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên được chấp nhận.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng nơi xảy ra tội phạm.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tính đến ngày phạm tội, bị cáo đã 03 lần bị xét xử về tội chiếm đoạt tài sản, mặc dù đã được xóa án tích nhưng đánh giá bị cáo có nhân thân không tốt.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. HĐXX áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Từ phân tích và nhận định trên, xét cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo đã gây ra. Cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại không yêu cầu gì nên HĐXX không xét.
Các biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo nộp lại số tiền do phạm tội mà có sung công quỹ Nhà nước.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Mai Đăng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, 47 BLHS; Điều 136, 329 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Mai Đăng T 12 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/8/2023.
Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: HĐXX không xem xét.
Các biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo nộp lại 3.000.000đ tiền do phạm tội mà có sung công quỹ Nhà nước.
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí HSST.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn V |
Bản án số 312/2023/HSST ngày 16/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 312/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự Sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai Đăng Thọ phạm tội “Trộm cắp tài sản”
