Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 312/2024/DS-PT

Ngày 14-6-2024

“V/v Tranh chấp quyền

sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Chí Tâm;

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Vĩnh;

Ông Ngô Tấn Lợi;

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hoàng Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Nguyễn Ngọc Trang - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 24 tháng 5 và ngày 14 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 132/2024/TLPT-DS ngày 22/02/2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 38/2023/DS-ST ngày 20 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 239/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 3 năm 2024, giữa:

Nguyên đơn: Hà Văn H, sinh năm 1954;

Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Bị đơn: Hà Ngọc X, sinh năm 1952;

Người đại diện hợp pháp: Anh Hà Đinh H1, sinh năm 1989;

Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thị M, sinh năm 1953;
  2. Hà Kim D, sinh năm 1982;
  3. Hà Thanh D1, sinh năm 1988;
  4. Hà Thanh B, sinh năm 1993;
  5. Nguyễn Thị C, sinh năm 1954;
  6. Hà Văn Đ, sinh năm 1976;
  7. Hà Đinh H1, sinh năm 1989;
  8. Hà Văn L, sinh năm 1972;
  9. Hà Phú N, sinh năm 1978;
  10. Hà Thanh N1, sinh năm 1981;
  11. Hà Quốc T, sinh năm 1987;

Cùng địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Hà Phước L1, sinh năm 1949;

Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Nguyễn Thị Bạch T1, sinh năm 1972;

Địa chỉ: Ấp D, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

  1. Nguyễn Thị Tuyết E, sinh năm 1976;
  2. Nguyễn Văn T2, sinh năm 1977;
  3. Nguyễn Thị Thanh T3, sinh năm 1979;
  4. Nguyễn Thanh T4, sinh năm 1982;
  5. Nguyễn Thị Bích T5, sinh năm 1986;
  6. Nguyễn Minh H2, sinh năm 1990;
  7. Nguyễn Thị Bích H3, sinh năm 1991;

Cùng địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, Đồng Tháp.

  1. Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Tháp;

Địa chỉ: Đường C, khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Thế Hồng T6 - Chức vụ: Chủ tịch, là người đại diện theo pháp luật.

Người kháng cáo: Ông Hà Ngọc X là bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Nguyên đơn ông Hà Văn H trình bày:

Đất tranh chấp là của cụ ông Hà Tấn T7 (sinh năm 1922, chết năm 2003) và cụ bà Đặng Thị Y (sinh năm 1928, chết năm 2016).

Cụ T7 có 02 người vợ. Người vợ thứ nhất là cụ Lê Thị M1 (sinh năm 1929, chết năm 1958), hai cụ có 05 người con chung gồm: ông Hà Phước L1, bà Hà Kim Q (chết năm 2017), ông Hà Văn X1, ông Hà Văn H và ông Hà Hữu P (chết năm 1973, không có vợ con).

Người vợ thứ hai là cụ Đặng Thị Y (sinh năm 1928, chết năm 2016), không có con chung.

Bà Hà Kim Q (con cụ T7 với cụ M1; chết năm 2017) có 08 người con gồm: Nguyễn Thị Bạch T1, Nguyễn Thị Tuyết E, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Thị Thanh T3, Nguyễn Thị Thanh T8, Nguyễn Thị Bích T5, Nguyễn Minh H2, Nguyễn Thị Bích H3.

Cụ T7 và cụ Y có tài sản chung là 9,5 công đất tầm cắt (12.350m²) tọa lạc ấp B, xã B. Nguồn gốc đất là của ông bà ngoại (cha mẹ của cụ M1) cho vợ chồng cụ T7 và cụ Y canh tác để nuôi cháu ngoại. Năm 1977, cụ T7 có đăng ký nhưng vì sao không được cấp quyền sử dụng đất thì ông H không rõ. Khi còn sống, cụ T7 và cụ Y đã chia đất cho các con 03 lần, cụ thể như sau:

  • Năm 1975, cụ T7 và cụ Y cho ông X1 01 nền nhà có diện tích khoảng 300m². Đến năm 1976, ông X1 cất nhà sinh sống, có vị trí tại căn nhà hiện nay ông X1 đang ở.
  • Năm 1980, cụ T7 và cụ Y tiếp tục chia cho các con: các con trai L1, X1, H mỗi người 02 công tầm cắt (diện tích 2.600m²), con gái Q được chia 01 công tầm cắt (diện tích 1.300m²). Cụ T7 và cụ Y còn lại 2,5 công tầm cắt (diện tích 3.250m²). Sau khi được chia đất thì ông L1 bán lại cho ông H và ông X1 mỗi người 01 công tầm cắt, bà Q bán lại cho ông H 01 công.
  • Năm 1996, cụ T7 và cụ Y tiếp tục chia 2,5 công tầm cắt còn lại cho ông X1 01 công tầm cắt (diện tích 1.300m²), còn lại chia cho ông H.

Việc chia đất và vị trí đất theo đúng nội dung trong Tờ di chúc được cụ T7 và cụ Y lập vào ngày 20/6/2000. Mặc dù ghi là di chúc nhưng thực tế từ năm 1996, các cụ đã chia đất cho các con xong.

Mặc dù đến năm 1996 mới chia hết đất nhưng đối với phần đất tranh chấp thì ông H đã sử dụng từ năm 1980 cho đến nay, cụ thể: ông H cất nhà lá ở trên đất để tiện việc canh tác ruộng lúa. Năm 1990 chở đất ruộng phía sau đắp nền và cất lại nhà cho con là Hà Thanh V ở. Năm 1996, ông H đắp liếp (hiện nay thuộc thửa 487) để trồng xoài. Năm 2003, nhà của ông H ở xã M bị sạt lỡ nên ông dời nhà (nhà tol, cột gáo) vào phần đất tranh chấp sinh sống, có vị trí tại căn nhà hiện nay ông H đang ở. Đến năm 2012 thì ông H xây dựng nhà kiên cố.

Ông H đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất cha mẹ cho và mua lại của ông L1, bà Q. Đối với diện tích đất được cho năm 1996 thì ông X1 lại đi kê khai đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông H có gặp ông X1 yêu cầu sang tên lại thì ông X1 cứ hẹn mà không thực hiện. Sau đó thì ông X1 không đồng ý tách thửa nên xảy ra tranh chấp từ năm 2012 cho đến nay.

Ông H xác định được cha mẹ cho đất và ông đã sử dụng từ khi cha mẹ còn sống đến nay. Tờ di chúc ngày 20/6/2000 do cụ T7 và cụ Y lập là nhằm xác nhận rõ ràng việc cho đất, xác định lại vị trí, kích thước, diện tích các phần đất đã chia cho các con trước đây chứ không phải tờ di chúc để thừa kế. Do đó, ông H yêu cầu giải quyết về quyền sử dụng đất đã được cha mẹ cho chứ không yêu cầu hay tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất.

Ông H yêu cầu các vấn đề sau:

  • Công nhận cho ông H được quyền sử dụng diện tích đất 2.340,6m² trong phạm vi các mốc:
    • + Diện tích 1.950m² từ mốc 7, 14, 13, 12, 9, 10, 6 về mốc 7 theo Sơ đồ mốc ngày 20/4/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C thuộc một phần thửa số 472, tờ bản đồ số 1 (bản đồ địa chính chính quy), đất tọa lạc tại xã B, huyện C;
    • + Diện tích 390,6m² từ mốc 6, 5, 11, 10 về mốc 6 theo Sơ đồ mốc ngày 20/4/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C thuộc một phần thửa số 487, tờ bản đồ số 1 (bản đồ địa chính chính quy), đất tọa lạc tại xã B, huyện C.

Ông H không yêu cầu hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 31/5/1993 cho hộ gia đình ông Hà Ngọc X đối với thửa 868, tờ bản đồ số 1, diện tích 5.069m² (bản đồ 299), đất tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nữa mà để Tòa án giải quyết theo quy định.

Trường hợp giải quyết chấp nhận yêu cầu của ông H thì đối với căn nhà của anh B đang ở trên đất, ông H và anh B sẽ tự thỏa thuận.

- Bị đơn ông Hà Ngọc X trình bày:

Ông Xuân thống nhất lời trình bày của ông H về nguồn gốc đất tranh chấp, kết quả đo đạc, định giá tài sản tranh chấp; thời gian chết của cụ T7, cụ M1, cụ Y, bà Q; các con cung của cụ T7 và cụ M1 cũng như hàng thừa kế thứ nhất của bà Q.

Khi còn sống cụ T7 đã chia phần cho các con, cụ thể: cho bà Q 01 công tầm cắt; các con trai L1 và ông H mỗi người 02 công tầm cắt, còn lại cho ông X hết.

Do đó ông X kê khai đăng ký và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 31/5/1993 tại các thửa 868, 869, cùng tờ bản đồ số 1 (bản đồ 299). Phần ông H và ông L1 còn được ông bà ngoại cho đất cồn ở xã M nhưng đã bán cho người khác. Đến năm 2003, ông H chuyển từ xã M vào phần đất đang tranh chấp sinh sống cho đến nay. Việc ông H sinh sống trên phần đất tranh chấp thì ông X có khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết vào năm 2011, kết quả Tòa án trả đơn không giải quyết. Sau đó thì ông H khởi kiện.

Nay ông X không đồng ý toàn bộ yêu cầu của ông H vì ông được cha cho đất và đã được cấp quyền sử dụng từ năm 1993 cho đến nay là hợp pháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hà Phước L1 trình bày:

Ông L1 thống nhất lời trình bày của ông H về nguồn gốc đất tranh chấp, kết quả đo đạc, định giá tài sản tranh chấp; thời gian chết của cụ T7, cụ M1, cụ Y, bà Q; các con chung của cụ T7 và cụ M1, hàng thừa kế thứ nhất của bà Q và việc cha mẹ chia đất cho các con theo nội dung Tờ di chúc ngày 20/6/2000 là đúng.

Sau khi được cha mẹ cho đất, ông L1 đã bán lại phần đất của mình cho ông H và ông X mỗi người 01 công tầm cắt. Đối với phần đất mà ông H đang tranh chấp với ông X thì ông L1 xác định cha mẹ đã cho ông H chứ không phải cho ông X; việc cho đất theo như nội dung tờ di chúc là đúng thực tế. Ông H cũng đã sử dụng đất từ năm 1980 cho đến nay, ông X không có tranh chấp gì về việc này.

Nay ông L1 xác định cha mẹ đã cho đất cho các con xong từ khi còn sống nên ông không có yêu cầu chia thừa kế hay tranh chấp gì đối với phần đất này nữa. Tại phần đất này, ông L1 không còn quyền, nghĩa vụ liên quan.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bạch T1, bà Nguyễn Thị Tuyết E, ông Nguyễn Văn T2, bà Nguyễn Thị Thanh T3, ông Nguyễn Thanh T8, bà Nguyễn Thị Bích T5, ông Nguyễn Minh H2, bà Nguyễn Thị Bích H3 trình bày:

Chị Bạch T1, chị Tuyết E, anh T2, chị T3, chị T8, chị T5, anh H2, chị H3 là các con ruột và là hàng thừa kế thứ nhất của bà Hà Kim Q (chết năm 2017). Khi còn sống bà Q được ông bà ngoại cho phần đất có diện tích 1.300m² tại ấp B, xã B, huyện C. Sau khi được cho đất thì bà Q đã bán lại cho ông H làm lúa cho đến nay.

Các anh chị thống nhất lời trình bày của ông H về nguồn gốc đất tranh chấp, kết quả đo đạc, định giá tài sản tranh chấp; thời gian chết của cụ T7, cụ M1, cụ Y; các con chung của cụ T7 và cụ M1 và việc ông bà ngoại chia đất cho các cậu theo nội dung Tờ di chúc ngày 20/6/2000 là đúng vì trước đây được nghe mẹ nói lại, hơn nữa trong gia đình ai cũng biết. Đối với phần đất mà ông H đang tranh chấp với ông X thì các anh chị biết được ông bà ngoại đã cho ông H chứ không phải cho ông X. Ông H đã sử dụng đất từ rất lâu và thờ cúng ông bà tổ tiên mà ông X không có ý kiến gì.

Nay các anh chị xác định mẹ đã được cho đất xong từ khi ông bà ngoại và mẹ còn sống nên tại phiên tòa hôm nay không có yêu cầu chia thừa kế hay tranh chấp gì đối với phần đất này nữa. Tại phần đất này, các anh chị không còn quyền, nghĩa vụ liên quan.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hà Văn Đ và Hà Đinh H1 là trình bày:

Anh Đ và anh H1 là con ruột của ông X. Các anh thống nhất toàn bộ lời trình bày của ông X. Anh H1 hiện nay đang sống chung nhà với ông X. Riêng đối với căn nhà anh Đ đã xây dựng trên phần đất tranh chấp vào năm 1999 sau đó anh có sửa chữa lại như hiện trạng hiện nay. Ông H khởi kiện yêu cầu được công nhận phần đất mà không có căn nhà của anh Đ thì anh Đ cũng thống nhất, không có ý kiến gì khác.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Hà Thanh D1 và anh Hà Thanh B trình bày:

Anh D2 và anh B là con ruột của ông H. Các anh thống nhất toàn bộ lời trình bày của ông H, giao toàn quyền quyết định cho ông H để giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất với ông X, xác định trường hợp được chấp nhận yêu cầu khởi kiện thì quyền sử dụng đất là tài sản riêng của ông H, không phải của hộ vì được ông bà ngoại cho riêng. Đối với căn nhà mà anh B đang sinh sống thì anh xác định là nhà cũ của ông H xây cất. Năm 2012, ông H xây dựng nhà mới kiên cố và di dời nhà cũ sang vị trí hiện nay cho anh B ở. Sau đó anh B có sửa chữa và sinh sống. Trường hợp giải quyết chấp nhận yêu cầu của ông H thì anh B và ông H sẽ tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trường hợp giải quyết không chấp nhận yêu cầu của ông H thì do ông X chưa có yêu cầu gì nên anh B chưa có ý kiến được.

Bản án dân sự sơ thẩm số 38/2023/DS-ST ngày 20 tháng 4 năm 2023

của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp quyết định:

Căn cứ Điều 26, 35, 39, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, 48, 49 Luật đất đai năm 1987; Điều 100, 101, 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hà Văn H.

1.1. Ông Hà Văn H được quyền sử dụng diện tích đất 1.950m², bao gồm 150m² thuộc loại đất ở nông thôn và 1.800m² thuộc loại đất trồng cây lâu năm, trong phạm vi các mốc 7, 14, 13, 12, 9, 10, 6 về mốc 7, thuộc một phần thửa số 472, tờ bản đồ số 1 (bản đồ địa chính chính quy, đối chiếu sang bản đồ 299 là thuộc thửa 867 và một phần thửa 868, cùng tờ bản đồ số 1) và diện tích 390,6m², loại đất chuyên trồng lúa nước, trong phạm vi các mốc 6, 10, 11, 5 về mốc 6 thuộc một phần thửa số 487, tờ bản đồ số 1 (bản đồ địa chính chính quy, đối chiếu sang bản đồ 299 là thuộc một phần thửa 868, tờ bản đồ số 1) theo Sơ đồ mốc ngày 20/4/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, đất tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

1.2. Diện tích đất 1.950m², bao gồm 150m² thuộc loại đất ở nông thôn và 1.800m² thuộc loại đất trồng cây lâu năm, trong phạm vi các mốc 7, 14, 13, 12, 9, 10, 6 về mốc 7 thuộc một phần thửa số 472, tờ bản đồ số 1 (bản đồ địa chính chính quy, đối chiếu sang bản đồ 299 là thuộc thửa 867 và một phần thửa 868, cùng tờ bản đồ số 1) có vị trí như sau:

  • Một cạnh giáp phần còn lại của thửa 472 nối từ mốc 14, 13, 12, 9;
  • Một cạnh giáp thửa 487 nối từ mốc 9, 10, 6;
  • Một cạnh giáp thửa 486 nối từ mốc 6 đến mốc 7;
  • Một cạnh giáp lộ đá nối từ mốc 7 đến mốc 14.

1.3. Diện tích đất 390,6m², loại đất chuyên trồng lúa nước, trong phạm vi các mốc 6, 10, 11, 5 về mốc 6 thuộc một phần thửa số 487, tờ bản đồ số 1 (bản đồ địa chính chính quy, đối chiếu sang bản đồ 299 là thuộc một phần thửa 868, tờ bản đồ số 1) có vị trí như sau:

  • Một cạnh giáp phần còn lại của thửa 487 nối từ mốc 10 đến mốc 11;
  • Một cạnh giáp phần còn lại của thửa 487 nối từ mốc 11 đến mốc 5;
  • Một cạnh giáp thửa 486 nối từ mốc 5 đến mốc 6;
  • Một cạnh giáp thửa 472 nối từ mốc 6 đến mốc 10.

(Kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 22/4/2019, 15/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh và Sơ đồ mốc ngày 20/4/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C)

2. Đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 186598, số vào số 01538, đã cấp cho hộ ông Hà Ngọc X vào ngày 31/5/1993 đối với thửa 868, 869, tờ bản đồ số 1, đất tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

2.1. Ông Hà Văn H có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để làm thủ tục kê khai, đăng ký, tách, chuyển, điều chỉnh đối với diện tích đất được công nhận quyền sử dụng đất theo bản án đã tuyên.

2.2. Hộ ông Hà Ngọc X, bà Nguyễn Thị C, anh Hà Văn Đ, anh Hà Đinh H1, anh Hà Văn L, anh Hà Phú N, anh Hà Thanh N1, anh Hà Quốc T có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để làm thủ tục kê khai, đăng ký, tách, chuyển, điều chỉnh đối với diện tích đất thuộc phần còn lại của thửa 868, 869, tờ bản đồ số 1 (bản đồ 299), đất tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp phù hợp với hiện trạng sử dụng thực tế.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Hà Văn H và ông Hà Ngọc X là người cao tuổi, được miễn nộp án phí.

Ngoài ra bản án còn tuyên quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự. Sau khi xét xử vụ án, ông X kháng cáo yêu cầu xem xét tài liệu, chứng cứ cùng toàn bộ hồ sơ vụ án, giải quyết theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H.

Tại phiên tòa phúc thẩm có mặt ông H, ông L1, anh H1, anh Ð, anh B, anh D2, chị T1. Phiên tòa ngày 14/6/2024, ông L1 vắng mặt. Các đương sự khẳng định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho Tòa án giải quyết vụ án. Ông X giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và không cung cấp thêm chứng cứ chứng minh yêu cầu kháng cáo của mình.

Anh H1 đại diện ông X trình bày kháng cáo:

  • + Diện tích 1.950m² theo các mốc Tòa án tuyên ông X yêu cầu công nhận thêm cho ông diện tích thêm chiều dài là từ mốc 12, 13 đến mốc 9 lấy thêm 20m. Tai vị trí 20m ông X đề nghị bỏ 1,5m dài xuống mốc 9 (vì lý do tránh nền mã tại 1,5m nêu trên).
  • + Diện tích 390,6m² từ mốc 6, 5, 11, 10 về mốc 6 thuộc một phần thửa số 487, tờ bản đồ số 1 (bản đồ địa chính chính quy), đối chiếu sang bản đồ 299 là thuộc một phần thửa 868 tờ bản đồ số 01 đây là đất thuộc gia đình ông X nên xử giao cho gia đình ông H là không đúng. Ông X không đồng ý.

Ông H trình bày: Ông không đồng ý vì ông T7 đã cho gia đình vào năm 1976 và đã được xác định lai theo tờ di chúc ngày 20/6/2020.

Anh Đ trình bày: Anh thống nhất theo ý kiến của anh H1, không có ý kiến gì khác.

Chị T1, anh B, anh D2 trình bày: Thống nhất theo ý kiến của ông H, không có yêu cầu giải quyết vấn đề gì trong vụ án.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử đúng theo quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng có mặt thực hiện đúng theo quy định về quyền và nghĩa vụ đương sự. Về nội dung giải quyết vụ án đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông X, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được kiểm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Các đương sự thống nhất không có khiếu nại gì về thành phần những người tham gia tố tụng, không có yêu cầu gì khác.

[2] Về nội dung tranh chấp: Ông Hà Văn H yêu cầu được công nhận quyền sử dụng đất đối với các diện tích 1.950m² thuộc một phần thửa số 472 và diện tích 390,6m² thuộc một phần thửa số 487, cùng tờ bản đồ số 1 (bản đồ địa chính chính quy), đất tại xã B, huyện C.

Về nội dung vụ án tranh chấp các đương sự Tòa án cấp sơ thẩm qua thu thập chứng cứ và diễn biến phiên tòa quyết định:

  • - Diện tích 1.950m² được đo đạc thực tế trong phạm vi từ mốc 7, 14, 13, 12, 9, 10, 6 về mốc 7 và diện tích 390,6m² trong phạm vi từ mốc 6, 5, 11, 10 về mốc 6 theo Sơ đồ mốc ngày 20/4/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, được xác định là thuộc một phần thửa số 472 và thửa 487, cùng tờ bản đồ số 1 (bản đồ địa chính chính quy).

Căn cứ vào các Công văn số 756/UBND-HC ngày 12/9/2019, Công văn số 1698/UBND-TNMT ngày 01/11/2021 và Công văn số 478/UBND-TNMT ngày 13/4/2022 của Ủy ban nhân dân huyện C thì diện tích 1.950m² đối chiếu sang hệ thống bản đồ 299 thuộc thửa đất 867 và một phần của thửa đất số 868, cùng tờ bản đồ số 1. Diện tích 390,6m² đối chiếu sang hệ thống bản đồ 299 thuộc một phần của thửa đất số 868, tờ bản đồ số 1.

Thửa đất 868 đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Hà Ngọc X vào ngày 31/5/1993, hình thức Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất. Thửa đất 867 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Hiện nay các diện tích đất tranh chấp nêu trên do ông H và những người trong hộ của ông H sử dụng.

[3] Về nguồn gốc đất tranh chấp: Các đương sự thống nhất đất tranh chấp là của ông bà ngoại của ông H, ông X cho cha mẹ là cụ Hà Tấn T7 và cụ Lê Thị M1 được 9,5 công tầm cắt, có diện tích khoảng 12.350m².

Năm 1958, cụ M1 chết nên sau đó cụ T7 cưới cụ Đặng Thị Y. Cụ T7 và cụ Y chung sống, canh tác đất để nuôi dưỡng các anh chị em của ông H và ông X. Sau khi các con lập gia đình thì cụ T7, cụ Y đã chia đất cho các con.

  • - Ông H trình bày cha mẹ cho đất vào các năm 1975, 1980 và 1996, đối với đất tranh chấp thì ông H được cha mẹ cho vào năm 1976.
  • - Ông X trình bày được cha mẹ cho đất nhưng không nhớ thời gian.

[4] Về việc cho và sử dụng đất:

Ông H trình bày 9,5 công tầm cắt có diện tích khoảng 12.350m² được ông bà ngoại cho là đất ruộng, cụ T7 có sử dụng nhưng không trực tiếp quản lý được do đã có nhà ở xã M. Vì vậy vào năm 1975 là sau khi ông X cưới vợ, cụ T7 cho 01 phần đất có diện tích khoảng 300m² để cất nhà sinh sống và trông coi đất, có vị trí ở căn nhà hiện nay của ông X.

Đến năm 1980, cụ T7, cụ Y chia đất cho các con, mỗi con trai được 02 công tầm cắt, con gái được 01 công tầm cắt có vị trí đúng như Sơ đồ phân chia đất cho các con trong Tờ di chúc ngày 20/6/2000.

Sau đó thì ông L1 và bà Q mỗi người chuyển nhượng lại 01 công tầm cắt cho ông H, ông L1 chuyển nhượng lại 01 công tầm cắt cho ông X.

Như vậy, đối với đất ruộng được cho năm 1980, ông H được sử dụng 04 công tầm cắt, ông X được sử dụng 03 công tầm cắt, cha mẹ còn giữ lại 2,5 công có mặt tiền.

Năm 1996, cha mẹ tiếp tục chia cho ông H và ông X phần còn lại. Ông X được cho 01 nền nhà ở mặt tiền, bao gồm phần đất mà ông X được cho năm 1975, có chiều ngang trước và sau là 6 tầm và 5,5 tầm, dài 24 tầm (mỗi tầm là 03 mét). Ông H có trách nhiệm thờ cúng ông bà, cha mẹ sau khi chết nên được cho phần còn lại giáp đất ông Nguyễn Văn P1, là đất đang tranh chấp.

Ông X trình bày cha mẹ chỉ phân chia đất cho các con 01 lần, các con trai được 02 công tầm cắt, con gái được 01 công tầm cắt tổng cộng là 07 công, còn lại 2,5 công mặt tiền đều cho ông X chứ không có cho ông H vì ông L1 và ông H đã được cho đất cồn ở xã M nên không chia ở đây nữa. Lời trình bày của ông X không được ông H đồng ý và cũng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh.

Lời trình bày của ông H được ông L1 và những người thừa kế của bà Q thống nhất là đúng, phù hợp với nội dung Tờ di chúc ngày 20/6/2000. Ông X không thừa nhận tờ di chúc nêu trên là do cha mẹ lập nhưng cũng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nội dung tờ di chúc là không đúng ý chí của cụ T7 và cụ Y. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định Tờ di chúc ngày 20/6/2000 là được lập theo yêu cầu của cụ T7 và cụ Y, thể hiện đúng ý chí của các cụ về việc phân chia đất, trong đó có chỉ rõ diện tích, kích thước và vị trí phần đất chia cho các con như ông H trình bày.

Ngoài ra, xét thấy mặc dù hình thức ghi là “Tờ di chúc” nhưng nội dung chỉ nhằm xác định rõ lại việc phân chia đất, bởi vì các đương sự bao gồm cả ông X, thừa nhận lúc này cha mẹ đã cho đất ruộng ở phía sau xong, các ông bà đã nhận đất, ông X và ông H cũng đã nhận chuyển nhượng lại phần đất mà ông L1 và bà Q được cho và sử dụng đất từ trước đó rất lâu. Do vậy, trong vụ án này các đương sự không yêu cầu chia thừa kế là phù hợp.

Về quá trình sử dụng đất tranh chấp, ông H trình bày mặc dù năm 1996 mới được cho đất nhưng do ông ở chung với cha mẹ nên đã được giao đất sử dụng liên tục từ năm 1980 để làm lúa nuôi gia đình, đến khi phần đất cồn ở xã M bị sạt lỡ toàn bộ thì ông H di dời nhà vào đây ở đến nay. Ông X không có sử dụng đất tranh chấp mà chỉ trồng vài cây gáo làm ranh với người giáp ranh. Lời trình bày của ông H được những người làm chứng là người biết việc trong gia đình và người sống lân cận xác nhận là đúng. Ngoài ra, khi xem xét, thẩm định tại chỗ cũng không ghi nhận được ông X có tài sản, kiến trúc trên đất. Việc ông H sử dụng đất, cải tạo, tu bổ đất, cất nhà và xây dựng nhà kiên cố vào năm 2012 thì ông X ở ngay bên cạnh đều biết nhưng không phản đối, không có tranh chấp mà các bên chỉ tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất. Như vậy, có cơ sở xác định đất tranh chấp là do cụ T7 và cụ Y cho ông H chứ không phải cho ông X, ông H đã sử dụng đất liên tục từ năm 1980 đến nay, ông X biết nhưng không tranh chấp về quyền sử dụng đất mà chỉ tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất đối với phần mặt tiền mà ông X và ông H được chia.

[5] Về quá trình kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất: Căn cứ vào Công văn số 756/UBND-HC ngày 12/9/2019 và Công văn số 1698/UBND-TNMT ngày 01/11/2021 của Ủy ban nhân dân huyện C xác định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 868, tờ bản đồ số 1 (bản đồ 299) cho hộ ông Hà Ngọc X ngày 31/5/1993, cơ sở cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất kê khai ngày 15/10/1992, cụ Hà Tấn T7 không đăng ký quyền sử dụng đất tại thửa này. Khi đăng ký thì ông X kê khai cả thửa 869 đang sử dụng nên Ủy ban nhân dân huyện C xác định khi cấp giấy hộ ông X đang sử dụng đất mà không xác minh rõ là chưa đúng, vì đính kèm Công văn 1698 đã thể hiện trong hồ sơ cấp quyền sử dụng đất có Tờ di chúc ngày 20/6/2000 của cụ T7 và cụ Y. Đối với ông H trình bày cha có kê khai nhưng không biết ở thửa nào, không biết lý do tại sao không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, từ trước đến nay cha mẹ chưa được cấp giấy ở thửa nào khác. Còn cá nhân ông H đến năm 1996 mới được cha mẹ cho đất nên không thể đăng ký để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng lúc với phần đất được cho năm 1980 được, sau khi cha chết thì ông H mới phát hiện đất đã được cấp cho ông X nên tranh chấp đến nay. Như vậy, việc ông X xác định nguồn gốc đất là của cụ T7 và cụ Y nhưng tự đi đăng ký, kê khai, thể hiện ở chỗ đến năm 2000, cụ T7 và cụ Y còn cho rằng phần đất này là của các cụ nên ông Xuân t đăng ký quyền sử dụng đất là không đúng.

[6] Từ những phân tích trên, xét thấy việc ông X đăng ký, kê khai và được cấp Giấy chứng nhận chứng nhận quyền sử dụng đất tại một phần đất tranh chấp thuộc một phần thửa 868 là không đúng quy định tại Điều 24, 48, 49 của Luật đất đai năm 1987 quy định về đất nông nghiệp và quyền lợi, nghĩa vụ của người sử dụng đất. Do đó, nay ông H yêu cầu được công nhận diện tích đất tranh chấp 2.340,6m² thuộc một phần thửa 868 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông X và thửa 867 chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đối chiếu sang bản đồ địa chính chính quy là thuộc một phần thửa 472 và một phần thửa 487, là phù quy định tại Điều 100, 101 Luật đất đai năm 2013 về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có giấy tờ và không có giấy tờ về quyền sử dụng đất nên chấp nhận.

[7] Đối với các đương sự còn lại không có yêu cầu gì nên không đặt vấn đề xem xét giải quyết.

[8] Đồng thời căn cứ vào nội dung quyết định các đương sự phải chịu tiền chi phí, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[9] Sau khi xét xử sơ thẩm thì ông X kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét giải quyết không chấp nhận yêu cầu khởi kiện ông H, sửa một phần bản án sơ thẩm. Các đương sự xác định ngoài lời trình bày và các chứng cứ đã nộp cho Tòa án ra thì các đương sự không còn chứng cứ nào khác. Ngoài ra, cũng không còn yêu cầu gì khác.

Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy ngoài nhận định Tòa án cấp sơ thẩm ra tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự thống nhất tại phần đất tranh chấp theo yêu cầu kháng cáo của ông X các đương sự thừa nhận đất từ mốc 12 đến mốc 13 trở về phía sau đến mốc 9 thì đây là phần đất hầm do ông H đào đất lên mà theo ông H (đào vào năm 1996 chiều ngang 3m, chiều sâu 1,2m). Đối với diện tích 390,6m² hiện nay ông H trồng cây sử dụng. Gia đình ông X không có sử dụng phần đất tranh chấp này. Qua đó xác định việc gia đình ông H sử dụng đất; việc ông X đăng ký quyền sử dụng đất ông T7, cụ Y, ông H không biết. Việc cho đất của cụ T7 được xác định lại theo tờ di chúc ngày 20/6/2000. Do đó không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông X là đúng theo quy định pháp luật.

[10] Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông X; giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp, đúng quy định pháp luật nên chấp nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các phần còn lại của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[11] Về chi phí, án phí dân sự phúc thẩm: Do giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm nên ông X phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Nhưng ông Hà Ngọc X là người cao tuổi, có đơn xin miễn nộp án phí nên được miễn nộp án phí theo quy định Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  • Không chấp nhận kháng cáo của ông Hà Ngọc X.
  • Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hà Văn H.

1.1. Ông Hà Văn H được quyền sử dụng diện tích đất 1.950m², bao gồm 150m² thuộc loại đất ở nông thôn và 1.800m² thuộc loại đất trồng cây lâu năm, trong phạm vi các mốc 7, 14, 13, 12, 9, 10, 6 về mốc 7, thuộc một phần thửa số 472, tờ bản đồ số 1 (bản đồ địa chính chính quy, đối chiếu sang bản đồ 299 là thuộc thửa 867 và một phần thửa 868, cùng tờ bản đồ số 1) và diện tích 390,6m², loại đất chuyên trồng lúa nước, trong phạm vi các mốc 6, 10, 11, 5 về mốc 6 thuộc một phần thửa số 487, tờ bản đồ số 1 (bản đồ địa chính chính quy, đối chiếu sang bản đồ 299 là thuộc một phần thửa 868, tờ bản đồ số 1) theo Sơ đồ mốc ngày 20/4/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C, đất tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

1.2. Diện tích đất 1.950m², bao gồm 150m² thuộc loại đất ở nông thôn và 1.800m² thuộc loại đất trồng cây lâu năm, trong phạm vi các mốc 7, 14, 13, 12, 9, 10, 6 về mốc 7 thuộc một phần thửa số 472, tờ bản đồ số 1 (bản đồ địa chính chính quy, đối chiếu sang bản đồ 299 là thuộc thửa 867 và một phần thửa 868, cùng tờ bản đồ số 1) có vị trí như sau:

  • Một cạnh giáp phần còn lại của thửa 472 nối từ mốc 14, 13, 12, 9;
  • Một cạnh giáp thửa 487 nối từ mốc 9, 10, 6;
  • Một cạnh giáp thửa 486 nối từ mốc 6 đến mốc 7;
  • Một cạnh giáp lộ đá nối từ mốc 7 đến mốc 14.

1.3. Diện tích đất 390,6m², loại đất chuyên trồng lúa nước, trong phạm vi các mốc 6, 10, 11, 5 về mốc 6 thuộc một phần thửa số 487, tờ bản đồ số 1 (bản đồ địa chính chính quy, đối chiếu sang bản đồ 299 là thuộc một phần thửa 868, tờ bản đồ số 1) có vị trí như sau:

  • Một cạnh giáp phần còn lại của thửa 487 nối từ mốc 10 đến mốc 11;
  • Một cạnh giáp phần còn lại của thửa 487 nối từ mốc 11 đến mốc 5;
  • Một cạnh giáp thửa 486 nối từ mốc 5 đến mốc 6;
  • Một cạnh giáp thửa 472 nối từ mốc 6 đến mốc 10.

(Kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 22/4/2019, 15/3/2021 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh và Sơ đồ mốc ngày 20/4/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C)

2. Đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 186598, số vào số 01538, đã cấp cho hộ ông Hà Ngọc X vào ngày 31/5/1993 đối với thửa 868, 869, tờ bản đồ số 1, đất tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

2.1. Ông Hà Văn H có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để làm thủ tục kê khai, đăng ký, tách, chuyển, điều chỉnh đối với diện tích đất được công nhận quyền sử dụng đất theo bản án đã tuyên.

2.2. Hộ ông Hà Ngọc X, bà Nguyễn Thị C, anh Hà Văn Đ, anh Hà Đinh H1, anh Hà Văn L, anh Hà Phú N, anh Hà Thanh N1, anh Hà Quốc T có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để làm thủ tục kê khai, đăng ký, tách, chuyển, điều chỉnh đối với diện tích đất thuộc phần còn lại của thửa 868, 869, tờ bản đồ số 1 (bản đồ 299), đất tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp phù hợp với hiện trạng sử dụng thực tế.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Hà Văn H và ông Hà Ngọc X là người cao tuổi, được miễn nộp án phí.

4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Hà Ngọc X là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - Phòng KTNV và THA TAT;
  • - TAND huyện Cao Lãnh;
  • - Chi cục THADS huyện Cao Lãnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Chí Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 312/2024/DS-PT ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 312/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ; Hà Văn Hưởng BĐ: Hà Ngọc Xuân
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger