|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - TP. HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 312/2024/HNGĐ-ST
Ngày 07/8/2024
"V/v ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thu Hằng. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Kiều Xuân Mai |
| Bà Dương Thị Kim Lan |
-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mê Linh.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội: Bà Nguyễn Thị Hương Mai - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 199/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2024/QĐXX-ST ngày 07 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị V, sinh năm 1988
Địa chỉ: Văn Lôi, Tam Đồng, huyện Mê Linh, Hà Nội
-
Bị đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1987
Địa chỉ: V, T, huyện M, Hà Nội
Có mặt chị V, vắng mặt anh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 13/5/2024 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là chị Hoàng Thị V trình bày:
-Về hôn nhân: Chị và anh Phạm Văn T đăng ký kết hôn ngày 24/4/2012 tại UBND xã T, huyện M, H. Sau khi cưới chị về gia đình anh T làm dâu, vợ chồng ở riêng. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, anh T sống không có trách nhiệm với gia đình vợ con. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 9/2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Tại phiên tòa chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.
-Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Phạm Anh T1, sinh ngày 24/6/2013 và Phạm Công N, sinh ngày 02/6/2016. Ly hôn chị đề nghị mỗi người nuôi một con và tự đảm nhiệm việc nuôi con.
-Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/5/2024 bị đơn là anh Phạm Văn T trình bày:
-Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận như chị V trình bày về thời gian, điều kiện kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, mỗi lần xảy ra mâu thuẫn chị V thường chửi bới anh dẫn đến anh có đánh đập chị V và chị V đã bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 9/2023 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị V làm đơn xin ly hôn, anh không đồng ý vì anh vẫn còn tình cảm với chị V.
-Về con chung: Anh xác nhận vợ chồng có 02 con chung như chị V trình bày. Ly hôn anh đề nghị xin được nuôi cả hai con và tự đảm nhiệm việc nuôi con.
-Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
-Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn không tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
-Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Xử:
- +Về hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị V được ly hôn anh Phạm Văn T.
- +Về con chung: Giao con chung Phạm Anh T1, sinh ngày 24/6/2013 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung Phạm Công N, sinh ngày 02/6/2016 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Tự mỗi bên đảm nhiệm việc nuôi con.
- +Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
- +Về án phí: Chị V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
-Về sự vắng mặt của bị đơn: Quá trình điều tra Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho anh Phạm Văn T nhưng tại phiên tòa anh T vắng mặt không rõ lý do nên căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
[1] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Hoàng Thị V và anh Phạm Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 24/4/2012 tại UBND xã T, huyện M, Hà Nội. Do vậy, cuộc hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do trong cuộc sống vợ chồng sống không có sự tin tưởng lẫn nhau, thiếu sự quan tâm chia sẻ với nhau. Tại phiên tòa chị V xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn. Đối với anh T vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra bản thân anh cũng xác định vợ chồng sống với nhau thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nhưng anh không đồng ý ly hôn vì anh xác định anh vẫn còn tình cảm với chị V. Mặc dù anh T không đồng ý ly hôn nhưng anh không đưa ra được biện pháp gì để khắc phục, cải thiện quan hệ vợ chồng. Xác minh tại gia đình cũng như chính quyền địa phương nơi anh chị cư trú được biết vợ chồng anh chị chung sống với nhau cũng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hiện vợ chồng anh chị sống ly thân không ai quan tâm đến ai. Như vậy, có thể thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Tòa án thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị V, cho chị được ly hôn anh T là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2] Về nuôi con chung:
Quá trình chung sống anh chị xác định vợ chồng có 02 con chung là Phạm Anh T1, sinh ngày 24/6/2013 và Phạm Công N, sinh ngày 02/6/2016. Quá trình điều tra cháu T1 có nguyện vọng muốn ở với mẹ, cháu N có nguyện vọng muốn ở với bố. Xét việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên sau khi ly hôn là quyền và nghĩa vụ của người làm cha, làm mẹ. Xét hiện nay hai anh chị đều đi làm, có thu nhập, có đủ điều kiện để nuôi con nên thấy cần giao cho hai anh chị mỗi người nuôi một cháu và tự đảm nhiệm việc nuôi con là phù hợp với quy định pháp luật cũng như nguyện vọng của các cháu.
[3] Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Chị V, anh T không đề nghị giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
[4] Về án phí: Chị V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28, 35, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ các Điều 146, 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị V được ly hôn anh Phạm Văn T.
-
Về con chung: Giao con chung là Phạm Anh T1, sinh ngày 24/6/2013 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung là Phạm Công N, sinh ngày 02/6/2016 cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng. Tự mỗi bên đảm nhiệm việc nuôi con.
Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom và chăm sóc con chung.
- Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị V phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, chị được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh theo Biên lai số 0008708 ngày 16/5/2024.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, chị V được quyền kháng cáo. Anh T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hằng |
Bản án số 312/2024/HNGĐ-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 312/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chi Vượng kết hôn với anh Thông, do mâu thuẫn nên chị Vượng xin ly hôn
