Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 312/2025/DS-PT
Ngày: 16 - 4 - 2025
V/v: Tranh chấp yêu cầu thực hiện
nghĩa vụ cam kết.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Anh Văn
  • Các Thẩm phán: Ông Trần Văn Mười
  • Ông Trần Ngọc Tuấn
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Minh Trang - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 875/2024/TLPT-DS ngày 11 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cam kết”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 357/2024/DS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 368/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Trần Văn K, sinh năm 1957; nơi đăng ký thường trú: Nhà số E đường C, phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; địa chỉ liên hệ: Nhà số A đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.
  2. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Lê Nguyễn Thanh M, sinh năm 1993; nơi đăng ký thường trú: Thôn A, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; địa chỉ liên hệ: Nhà số A đường L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.
  3. Bị đơn: Bà Lê Thị N; sinh năm 1957; địa chỉ cư trú: F B, S, V, Canada; địa chỉ liên hệ: Nhà số E đường K, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, có mặt.

Người kháng cáo: ông Trần Văn K, nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua đơn khởi kiện đề ngày 14/02/2020, bổ sung ngày 21/5/2024 và quá trình tham gia tố tụng ở Tòa án cấp sơ thẩm, nguyên đơn ông Trần Văn K có người đại diện theo ủy quyền là chị Lê Nguyễn Thanh M trình bày:

Ông Trần Văn K và bà Lê Thị Ngô C sống với nhau như vợ chồng từ khoảng năm 2002, đến ngày 06/01/2009 thì đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Năm 2017, do mâu thuẫn nên ông K, bà Ngô ly H theo Quyết định bản án số 12/2017/HNGĐ-PT ngày 24/8/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Trong quá trình chung sống, ông K và bà N đã cùng nhau tạo lập và duy trì được nhiều tài sản, trong đó có ngôi nhà ở địa chỉ số E đường K, Khu phố H, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Năm 2015, giữa ông K và bà Ngô phát S mâu thuẫn nên ông K rời khỏi nhà và bàn giao lại tài sản cho bà N quản lý, sử dụng. Ngày 04/02/2015, bà N tự nguyện đến Phòng C1 chứng thực Giấy cam kết với nội dung: “bằng văn bản này, tôi cam kết đến tháng 11 năm 2018 tôi sẽ tặng cho ông Trần Văn K 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) bằng tiền riêng của tôi và đến khi nào tôi bán được ngôi nhà tại số: 526/5 (số cũ: 6/4) đường K, Khu phố H, phường L, quận T, TP . thì tôi sẽ chia cho ông K 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng).”

Quá thời hạn cam kết trên và bà N cũng đã chuyển nhượng nhà cho người khác, ông K đã nhiều lần yêu cầu bà N thực hiện nghĩa vụ đã cam kết nhưng bà N vẫn không thực hiện. Do đó năm 2019, ông K đã có đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn, theo thông báo thụ lý số 381/2019/TLST-HNGĐ ngày 12/4/2019 của Tòa án nhân dân Quận Thủ Đức đối với bà Lê Thị Ngô . Tại Biên bản làm việc ngày 07/01/2020 và B tự khai cùng ngày tại Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị N là ông Võ Quang Đ đã thừa nhận việc cam kết của bà N vào ngày 04/02/2015 là: “Ngày 04/02/2015 bà N có cam kết đến tháng 11/2018 tôi sẽ tặng cho ông Trần Văn K 500.000.000 đồng (năm trăm triệu) và đến khi bán nhà 526/5 đường K, Khu phố H, Phường L, Quận T, TP . sẽ chia cho ông K 500.000.00 đồng. Tuy nhiên hiện nay bà N đang gặp khó khăn nên chưa thực hiện được việc đưa 500.000.000 đồng bằng tiền riêng, còn 500.000.000 đồng còn lại bà N sẽ chia khi bà bán nhà.”

Do đó, ông K khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị Ngô P thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết và tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ cho ông Trần Văn K tính đến ngày xét xử sơ thẩm, tổng cộng 1.675.500.000 đồng, đồng thời yêu câu tuyên bố “Hợp đồng tặng cho quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất” ngày 11/12/2015 giữa bà N và chị T là vô hiệu, hủy phần cập nhật biến động sang tên quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất cho chị T.

Bị đơn bà Lê Thị Ngô qua B tự khai và Biên bản làm việc cùng ngày 04/4/2024, Biên bản hòa giải không thành ngày 21/5/2024 trình bày:

Bà thừa nhận việc kết hôn, chung sống vợ chồng và sau đó ly hôn như phía nguyên đơn đã trình bày. Về việc cam kết ngày 04/02/2015, bà N1 thừa nhận có làm giấy cam kết đến tháng 11 năm 2018 sẽ tặng cho ông K số tiền 500.000.000 đồng bằng và đến khi nào bà bán được căn nhà số E (số cũ 6/4) đường K thì tôi sẽ chia cho ông K thêm 500.000.000 đồng. Lý do bà làm cam kết là do quá trình chung sống với ông K, bà phát hiện ông K không chung thủy nên cảm thấy không thể tiếp tục sống chung với ông K được nữa nên bà thỏa thuận như vậy để ly hôn với ông K. Thời điểm bà làm cam kết là tự nguyện, không bị ai đe dọa hay ép buộc gì, do ông K nói ông không có tài sản, nhà cửa nên bà thương hại mà cam kết như vậy. Nay bà đã lớn tuổi, không có tiền riêng, sống phụ thuộc con cái nên không có tiền để cho ông K. Đối với cam kết cho ông K 500.000.000 đồng khi bán nhà: Căn nhà này là tài sản riêng của bà và con gái riêng của bà được chia khi bà ly hôn với người chồng trước. Ngày 11/12/2015, bà đã làm hợp đồng tặng cho chị Nguyễn Thùy T (là con gái riêng của bà với chồng trước) căn nhà nêu trên tại Phòng C1. Do bà không chuyển nhượng nhà nên không có tiền cho ông K như cam kết. Vì vậy, bà không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 357/2024/DS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định (tóm tắt):

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn K về việc yêu cầu bà Lê Thị N thanh toán số tiền bà Lê Thị Ngô H1 tặng cho ông Trần Văn K theo Giấy cam kết ngày 04/02/2015 được Phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận với số tiền 500.000.000 đồng và 500.000.000 đồng sau khi bà Lê Thị Ngô B1 căn nhà số E (số cũ 6/4) đường K, khu phố H, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh và tiền lại 675.500.000 đồng. Tổng cộng là 1.675.500.000 đồng.
  2. Hủy Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 248/2023/QĐ-BPKCTT ngày 19/12/2023 về việc “Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ” đối với bà Lê Thị N, Quốc tịch: Việt Nam, sinh 12/02/1957, Chứng minh nhân dân số [...] cấp ngày 23/11/2022. Hộ chiếu số N2268191 do Cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài cấp ngày 14/5/2021. Địa chỉ đăng ký hộ khẩu thường trú: Số B (số mới 11) N, Phường H, Quận C, TP .. Địa chỉ khác: 526/5 K, Khu phố H, phường L, thành phố T, TP ..

(Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí và tuyên cho các đương sự quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của pháp luật).

Ngày 01/7/2024, ông Trần Văn K có đơn kháng cáo, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không rút đơn khởi kiện và giữ nguyên nội dung kháng cáo. Trong phần tranh luận, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày lại những nội dung đã nêu trong đơn kháng cáo.

Bị đơn trình bày quan điểm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Trong phần tranh luận, bị đơn xác định đúng là có hứa hẹn cho ông K một khoản tiền như trong giấy cam kết ngày 04/02/2015 đã nêu, nhưng hoàn cảnh hiện tại rất khó khăn, bản thân bệnh hiểm nghèo, sống phụ thuộc vào các con nên không thể thực hiện lời hứa cho tiền ông K.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với pháp luật. Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ, tài liệu nào mới để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo là có cơ sở, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa, sau khi thảo luận và nghị án Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông Trần Văn K làm trong thời hạn luật định, phù hợp về hình thức, nên là cơ sở để Tòa án xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông K vắng mặt, nhưng người đại diện theo ủy quyền của ông K có mặt. Do đó, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về giải quyết nội dung vụ án:

[2.1] Ông Trần Văn K và bà Lê Thị Ngô kết H2 ngày 06/01/2009 tại UBND Phường R, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, sau đó ly hôn theo Bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 12/2017/HNGĐ-PT ngày 24/8/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, nhưng không yêu cầu Tòa án giải quyết chia tài sản chung. Năm 2019, ông K có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn, nhưng sau đó ông K đã rút đơn. Năm 2024, ông K khởi kiện tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, yêu cầu bà N phải thực hiện cam kết đối với ông vào ngày 04/02/2015.

[2.2] Theo ông K trình bày thì trong quá trình chung sống, ông K và bà N đã cùng nhau tạo lập được nhiều tài sản, trong đó có căn nhà ở địa chỉ số E đường K (số cũ: 6/4), Khu phố H, phường L, Quận T (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2015, ông K và bà N đã có thỏa thuận về việc phân chia tài sản, ông K đồng ý rời khỏi nhà và bàn giao nhà đất cho bà N quản lý, sử dụng; bà N có nghĩa vụ thanh toán lại cho ông K một khoản tiền mặt, đồng thời sau khi bà N chuyển nhượng căn nhà 526/5 K thì phải chia cho ông một phần tiền. Song ông K không xuất trình được bất cứ chứng cứ, tài liệu nào để chứng minh về căn cứ xác lập quyền sở hữu căn nhà, cũng như sự thỏa thuận phân chia tài sản với bà N. Phía bà N không thừa nhận lời trình bày của ông K, đồng thời khẳng định căn nhà và quyền sử dụng đất tại địa chỉ 5 đường K là tài sản riêng của bà N. Lời trình bày của bà N phù hợp với kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm về hồ sơ nhà đất số 526/5 (số cũ: 6/4) đường K là căn nhà và quyền sử dụng đất nêu trên bà N đã được UBND Thành phố H cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở từ ngày 01/8/2003 (trước khi ông K và bà Ngô đăng K1 kết hôn). Thêm nữa, sau khi kết hôn, ngày 20/10/2009, bà N có đơn gửi U, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, xin xác nhận một số tài sản, trong đó có nhà đất ở địa chỉ số E (số cũ 6/4) đường K, khu phố H, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh là tài sản riêng của bà N; ở cuối đơn ông K đã viết và ký xác nhận vào ngày 22/12/2009 là: “Tôi tên Trần Văn K, hiện thường trú tại E đường C phường R, thành phố V, xác nhận toàn bộ tài sản bà Lê Thị Ngô kê K2 trong đơn này là của bà Lê Thị Ngô . Tôi hoàn toàn không có gì liên quan đến tổng số tài sản trên”. Do đó, lời trình bày của ông K cho rằng căn nhà 526/5 đường K là tài sản chung của ông và bà N, nên trước khi ly hôn, hai bên đã thỏa thuận phân chia tài sản, từ đó bà N đã làm cam kết ngày 04/02/2015 là không có cơ sở chấp nhận.

[2.3] Về “Giấy cam kết” của bà Ngô lập ngày 04/02/2015:

Ngày 04/02/2015, trước khi ly hôn, bà Ngô L giấy cam kết và được Phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh chứng thực chữ ký có nội dung: “Bằng văn bản này, tôi cam kết đến tháng 11 năm 2018 tôi sẽ tặng cho ông Trần Văn K 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) bằng tiền riêng của tôi và đến khi nào tôi bán được ngôi nhà tại số: 526/5 (số cũ: 6/4) đường K, Khu phố H, Phường L, Quận T, TP . thì tôi sẽ chia cho ông K 500.000.000đ (năm trăm triệu đồng)”. Quá trình giải quyết vụ án, bà N xác định bà làm cam kết trên là tự nguyện, không bị ông K hay ai khác đe dọa hay ép buộc. Như vậy, có cơ sở xác định vào ngày 04/02/2015, bà N có hứa là sẽ tặng cho ông K một khoản tiền, nhưng không kèm theo một hoặc một số điều kiện về nghĩa vụ của ông K (bên được tặng cho) phải thực hiện là lý do của việc tặng cho, mà theo bà N thì chỉ là xuất phát từ việc bà muốn được nhanh chóng ly hôn ông K và nghe ông K nói hoàn cảnh ông K rất khó khăn, không có tài sản, không có nhà ở. Do bà đã lớn tuổi, không còn khả năng lao động để kiếm tiền mà phải sống phụ thuộc con cái, nên bà không có tiền riêng, còn nhà đất có địa chỉ số E đường K bà đã tặng cho chị Nguyễn Thùy T nên không có tiền để cho ông K như đã cam kết. Xét việc bà N cam kết tặng cho ông K một khoản tiền mà không kèm theo điều kiện về nghĩa vụ mà ông K phải thực hiện nên không làm phát sinh nghĩa vụ dân sự của bà N đối với ông K.

Tại thời điểm bà N cam kết tặng cho ông K tiền thì Bộ luật Dân sự năm 2005 đang có hiệu lực thi hành. Bà N chưa giao tiền cho ông K nên căn cứ vào các quy định tại các điều 465, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2005 thì hợp đồng tặng cho tài sản giữa bà N và ông K chưa phát sinh hiệu lực. Hơn nữa, việc bà Ngô H1 cho ông K tiền khi nào bà bán được nhà không phải và không thể là điều kiện hạn chế quyền định đoạt của bà N, với tư cách là chủ sở hữu tài sản đối với tài sản là nhà đất ở địa chỉ số E đường K. Việc bà Ngô B1 nhà hay không bán nhà không phụ thuộc và việc hứa cho ông K tiền. Bà N không bán nhà mà tặng cho người khác đồng nghĩa là bà Ngô T1 vô hiệu hóa lời cam kết cho ông K tiền sau khi bán nhà.

Vào ngày 11/12/2015, bà Ngô L Hợp đồng số 38967 tặng cho con là bà Nguyễn Thùy T toàn bộ quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất tại địa chỉ 526/5 (số cũ: 6) đường K, Khu phố H, phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh và Phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận Hợp đồng tặng cho này.

Căn cứ quy định pháp luật nêu trên thì Giấy cam kết ngày 04/02/2015 về việc hứa sẽ tặng cho ông K tiền của bà N chưa phát sinh hiệu lực vì ông K chưa nhận tiền. Do đó việc ông K khởi kiện yêu cầu bà N phải thanh toán cho ông tổng số tiền là 1.675.500.000 đồng là không có cơ sở chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên ông K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu của ông không được chấp nhận. Tuy nhiên, ông K là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí theo đúng quy định của pháp luật nên các được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ các điều 274, 275, 465 và 466 của Bộ luật dân sự năm 2005; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án: Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn K, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 357/2024/DS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn K đòi bà Lê Thị N phải thanh toán số tiền cam kết tặng cho theo “Giấy cam kết” lập ngày 04/02/2015 tại Phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh và tiền lãi do chậm trả, tổng cộng số tiền là 1.675.500.000 đồng.
  2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về hủy Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, về chi phí tố tụng, án phí sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Ông Trần Văn K được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1);
  • - VKSND cấp cao tại TP. Hồ Chí Minh (1);
  • - Tòa án nhân dân TP. Hồ Chí Minh (1);
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh (1);
  • - Cục THADS TP. Hồ Chí Minh (1);
  • - Các đương sự (theo địa chỉ);
  • - Lưu: HS, VP; 13b, PMT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Anh Văn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 312/2025/DS-PT ngày 16/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cam kết

  • Số bản án: 312/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cam kết
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Căn cứ các điều 274, 275, 465 và 466 của Bộ luật dân sự năm 2005; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án: Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn K, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 357/2024/DS-ST ngày 12 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger