|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 312/2025/DS-PT
Ngày: 09-6-2025
V/v tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa
Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Những
Ông Đinh Tiền Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Luyến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Phát - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 118/2025/TLPT-DS ngày 23 tháng 4 năm 2025, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 124/2024/DS-ST ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 155/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phan Thị Bích T, sinh năm: 1978.
Địa chỉ: Ấp B, xã M, huyện B, tỉnh Long An.
- Bị đơn:
- Ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm: 1960.
- Bà Văn Thị Ú1, sinh năm: 1963.
- Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm: 1984.
- Chị Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm: 1989.
Cùng địa chỉ: Ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Liễu Minh K, sinh năm: 1984 (chồng bà H).
- Ông Nguyễn Chí L, sinh năm: 1982 (chồng bà T1).
- Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm: 1983 (con ông Ú1 và bà Ú1).
- Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm: 1986 (con ông Ú1 và bà Ú1).
Cùng địa chỉ: Ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Người kháng cáo: Nguyên đơn, bà Phan Thị Bích T.
(Bà T, bà Ú1, bà H có mặt; Các đương sự còn lại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 07/10/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm của nguyên đơn, bà Phan Thị Bích T do ông Huỳnh Văn T2 đại diện trình bày: Bà Phan Thị Bích T có thửa đất số 514, tờ bản đồ số 22, diện tích 864m², nhận chuyển nhượng của người khác vào năm 2017. Vì nhận chuyển nhượng nguyên thửa nên không có đo đạc thực tế, hiện nay đất do bà T quản lý, chưa có công trình xây dựng trên đất. Năm 2020, bà T tiến hành xác định ranh giới thì phát hiện ra phía ông Ú1 và bà Ú1 lấn chiếm 50m² (chưa xác định rõ ngang, dài là bao nhiêu), phần lấn là phần giáp phía sau căn nhà kiên cố của bà Ú1 (hiện tại là nhà tạm). Thời điểm nhận chuyển nhượng đất năm 2017, ranh giới đất giữa bà T và ông Úl như thế nào thì ông T2 không nắm rõ. Bà T yêu cầu ông Úl và bà Ú1 tháo dỡ nhà vách tường, mái tol để trả lại đất cho bà T diện tích khoảng 50m².
Tại đơn khởi kiện bổ sung ngày 15/9/2023, bà T yêu cầu Nguyễn Văn Ú, bà Văn Thị Ú1, bà Nguyễn Thị Thu H, bà Nguyễn Thị Thu T1 phải liên đới tháo dỡ phần nhà tạm vách tường, mái tôn trả lại cho bà Phan Thị Bích T phần đất lấn chiếm thuộc khu D1 (diện tích 12m²), khu A2 (diện tích 01m²), khu B2 (diện tích 4,2m²), khu C (diện tích 1,3m²) theo Mảnh trích đo địa chính số 57/LT-2022 được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 08/12/2022, thuộc một phần thửa đất 514, tờ bản đồ số 22, loại đất ở tại nông thôn, tọa lạc tại ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
Ông T2 thống nhất với M trích đo và Chứng thư thẩm định giá, không yêu cầu phải định giá lại.
Bị đơn bà Văn Thị Ú1 trình bày trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm như sau: Nguồn gốc thửa đất số 514 của bà T là do nhận chuyển nhượng của con ông Nguyễn Văn M1 vào năm 2017, ông M1 là anh ruột của bà Ú1. Khoảng năm 2011 hoặc 2012 thì bà Ú1 giới thiệu cho ông M1 mua thửa đất 514 mà hiện nay bà T đang đứng tên, bà Ú1 có nói với ông M1 là cho bà Ú1 100m² để bà Ú1 nhập vào phần hậu đất bà Ú1 cho đẹp đất. Trước khi bà T mua đất thì bà Úl có làm 01 phần nhà tạm để làm lạp xưởng nhưng bà đã tháo dỡ vào năm 2018 nên không có việc lấn chiếm đất của bà T. Hiện tại gia đình bà chỉ quản lý và sử dụng phần nhà kiên cố của gia đình xây dựng vào năm 2000. Trước khi ông M1 bán đất cho bà T thì ông M1 có hứa sẽ bán lại cho bà Ú1 01 miếng giáp ranh sau nhà kiên cố của bà Ú1. Khi bà T mua đất của ông M1 thì ông M1 có nói với bà T là phải bán lại cho bà Ú1 01 miếng phía sau nhà bà Ú1. Sau khi bà T mua xong thì bà T và mẹ bà T có qua nhà bà Ú1 và đồng ý bán lại cho bà Ú1 01 miếng đất giáp ranh sau nhà bà Ú1. Bà Ú1 có mang tiền sang nhà bà T 02 lần để thỏa thuận mua lại nhưng bà T không đồng ý mà nói đã bán cho người khác. Bà Ú1 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà T. Trường hợp nếu gia đình bà và các con bà có lấn chiếm qua đất của bà T thì bà sẽ đồng ý trả lại cho bà T đối với những vị trí xây cất công trình tạm mà tháo dỡ được. Còn đối với những công trình đã xây dựng kiên cố trước khi bà T nhận chuyển nhượng đất thì bà Ú1 không đồng ý tháo dỡ vì sẽ ảnh hưởng đến kết cấu xây dựng của căn nhà, nếu có lấn chiếm thì bà chỉ đồng ý trả giá trị bằng tiền cho bà T theo chứng thư định giá.
Bị đơn ông Nguyễn Văn Ú trình bày: Ông Ú là chồng của bà Ú, ông thống nhất với ý kiến trình bày của bà Ú.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/6/2024 và tại phiên tòa cấp sơ thẩm bà Nguyễn Thị Thu H trình bày: Đối với khu đất tranh chấp A2 diện tích 01m² là phần đất tranh chấp giữa bà Phan Thị Bích T với bà Nguyễn Thị Thu T1, thuộc thửa đất số 949 do bà T1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không có lấn chiếm. Đối với khu tranh chấp C2 diện tích 1,3m² là phần đất tranh chấp giữa bà T với bà Nguyễn Thị Thu H, thuộc thửa đất số 933 do bà H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng nên không có lấn chiếm. Đối với khu tranh chấp D1 diện tích 12m² bao gồm: phần đất tranh chấp giữa bà T với vợ chồng ông Ú, bà Ú, bà H, bà T1 thuộc thửa đất số 514 do bà T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo Mảnh trích đo địa chính số 24/B-2022 của công ty TNHH N ngày 20/12/2022, trên khu D1 có một phần nhà kiên cố 5,4m² do vợ chồng ông Ú đang sử dụng, một phần nhà tiền chế 2,75m² do chị H đang sử dụng nhưng hiện nay chị H đã tháo dỡ, một phần mái tôn diện tích 0,32m² do chị T1 sử dụng, còn lại diện tích 3,53m² là đất trống chưa ai sử dụng. Do đó, nếu các bị đơn có lấn chiếm qua đất của bà T thì bà sẽ đồng ý trả lại cho bà T đối với những vị trí xây cất công trình tạm mà tháo dỡ được. Còn đối với những công trình đã xây dựng kiên cố trước khi bà T nhận chuyển nhượng đất thì không đồng ý tháo dỡ vì sẽ ảnh hưởng đến kết cấu xây dựng của căn nhà, nếu có lấn chiếm thì chỉ đồng ý trả giá trị bằng tiền cho bà T theo chứng thư định giá.
Ông Nguyễn Văn Ú, bà Nguyễn Thị Thu T1, ông Lê Liễu Minh K, ông Nguyễn Chí L, ông Nguyễn Văn H1, ông Nguyễn Văn H2 có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt.
Tại Bản án dân sự số 124/2024/DS-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước đã tuyên:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Bích T về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất đối với bị đơn ông Nguyễn Văn Ú, bà Văn Thị Ú1.
Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn Ú và bà Văn Thị Ú1 hoàn trả giá trị bằng tiền cho bà Phan Thị Bích T số tiền là 69.157.800 đồng (sáu mươi chín triệu, một trăm năm bảy nghìn, tám trăm đồng), (tương đương với diện tích 5,4m²).
Ông Nguyễn Văn Ú và bà Văn Thị Ú1 được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng và đăng ký kê khai theo quy định của pháp luật về đất đai đối với phần diện tích 5,4m² tại khu D1 theo Mảnh trích đo số 57/LT-2022 ngày 05/12/2022 của Công ty N được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 08/12/2022.
Bà Phan Thị Bích T phải có nghĩa vụ đăng ký điều chỉnh lại diện tích đất cho đúng với thực tế sử dụng tại thửa đất 514, tờ bản đồ số 22, tọa lạc tại ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Bích T về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất đối với bị đơn chị Nguyễn Thị Thu H.
Buộc chị Nguyễn Thị Thu H và chồng là anh Lê Liễu Minh K tháo dỡ phần nhà tạm diện tích 2,75m² tại khu D1 theo Mảnh trích đo số 57/LT-2022 ngày 05/12/2022 của Công ty N được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện C duyệt ngày 08/12/2022 để trả lại đất cho bà T.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Bích T về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất đối với bị đơn chị Nguyễn Thị Thu T1.
Buộc chị Nguyễn Thị Thu T1 và chồng là anh Nguyễn Chí L tháo dỡ phần mái tôn diện tích 0,32m² tại khu D1 theo Mảnh trích đo số 57/LT-2022 ngày 05/12/2022 của Công ty N được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện C duyệt ngày 08/12/2022 để trả lại đất cho bà T.
- Bà Phan Thị Bích T được quyền quản lí, sử dụng phần đất trống diện tích 3,53m² tại khu D1 theo Mảnh trích đo số 57/LT-2022 ngày 05/12/2022 của Công ty N được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện C duyệt ngày 08/12/2022.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Bích T về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất đối với ông Nguyễn Văn Ú, bà Văn Thị Ú1, chị Nguyễn Thị Thu H, chị Nguyễn Thị Thu T1 đối với các khu A2 diện tích 1m², khu B2 diện tích 4,2m², khu C diện tích 1,3m² theo Mảnh trích đo số 57/LT-2022 ngày 05/12/2022 của Công ty N được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện C duyệt ngày 08/12/2022.
Ông Nguyễn Văn Ú và bà Văn Thị Ú1 được quyền tiếp tục quản lí, sử dụng khu đất B2 diện tích 4,2m².
Chị Nguyễn Thị Thu H, anh Lê Liễu Minh K được quyền tiếp tục quản lí, sử dụng khu đất C2 diện tích 1,3m².
Chị Nguyễn Thị Thu T1 và anh Nguyễn Chí L được quyền tiếp tục quản lí, sử dụng khu đất khu A diện tích 1m².
- Về án phí, chi phí tố tụng:
6.1. Về án phí: Bà Phan Thị Bích T phải chịu 900.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0009189 ngày 14/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cần Đước. Trả lại cho bà Phan Thị Bích T số tiền án phí còn dư là 350.000 đồng. Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Lê Liễu Minh K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Chị Nguyễn Thị Thu T1 và anh Nguyễn Chí L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn Ú và bà Văn Thị Ú1 được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
6.2 Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và thẩm định giá: Số tiền là 25.400.000 đồng, bà Phan Thị Bích T chịu số tiền là 12.700.000 đồng, đã nộp đủ; ông Nguyễn Văn Ú, bà Văn Thị Ú1, chị Nguyễn Thị Thu H, anh Lê Liễu Minh K, chị Nguyễn Thị Thu T1, anh Nguyễn Chí L phải liên đới nộp số tiền là 12.700.000 đồng để hoàn trả cho bà T.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án đối với các đương sự.
Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực, ngày 12/12/2024, bà Phan Thị Bích T kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà T.
Tại phiên tòa phúc thẩm bà T không rút đơn khởi kiện, bà T thay đổi yêu cầu kháng cáo, cụ thể bà T chỉ kháng cáo đối với một phần bản án sơ thẩm đã tuyên giải quyết đối với diện tích đất 5,4m² tại một phần khu D1 thuộc thửa đất số 514 và yêu cầu ông Ú1, bà Ú1 tháo dỡ nhà trả đất cho bà, không đồng ý nhận giá trị đất. Các phần khác mà bản án Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên, bà T đồng ý. Các bên đương sự không đề nghị thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.
Bà T tranh luận: Vị trí tại khu D có diện tích 5,4m² thuộc quyền sử dụng đất của bà, việc buộc ông Ú1, bà Ú1 tháo dỡ nhà để trả khu D1 cho bà sử dụng không làm ảnh hưởng đến nhà của bà Ú1, ông Ú1 vì đây chỉ là nhà tạm. Ông Ú1, bà Ú1 xây nhà lấn sang đất của bà thì phải tháo dỡ nhà để trả cho bà, bà sẽ hỗ trợ chi phí tháo dỡ. Các phần khác án sơ thẩm tuyên, bà đồng ý.
Bà Ú1, bà H tranh luận: Vị trí tại khu D1 do ông Ú1, bà Ú1 sử dụng trước khi bà T mua đất của ông K1. Mặc dù khi xây nhà có lấn sang đất của ông K1 nhưng ông K1 đồng ý và khi bán đất cho bà T, ông K1 có hứa sẽ chừa ra phần xây lấn. Nếu buộc tháo dỡ sẽ làm ảnh hưởng đến toàn bộ kết cấu căn nhà của bà Ú1, ông Úl vì vậy bà Ú1, ông Ú1 chỉ đồng ý hoàn lại cho bà T giá trị của 5,4m² quyền sử dụng đất như án sơ thẩm đã tuyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Kháng cáo của bà T đảm bảo các nội dung quy định tại Điều 272 Bộ luật tố tụng dân sự (đơn kháng cáo), đảm bảo Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự quy định về thời hạn kháng cáo. Do đó đủ điều kiện xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về quan điểm giải quyết vụ án dân sự:
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà T thay đổi yêu cầu kháng cáo, cụ thể bà T chỉ kháng cáo đối với một phần bản án sơ thẩm đã tuyên giải quyết đối với diện tích đất 5,4m² tại một phần khu D1 thuộc thửa 514 và yêu cầu ông Ú1, bà Ú1 tháo dỡ nhà trả đất cho bà, không đồng ý nhận giá trị đất. Bị đơn bà Ú1, bà H không đồng ý kháng cáo, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bà Ú1 đồng ý hoàn trả lại giá trị phần đất 5,4m² đã xây nhà lấn đất của bà T như bản án sơ thẩm đã tuyên.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày của các bên đương sự và xét kháng cáo của bà Phan Thị Bích T, thấy rằng:
Tòa án cấp sơ thẩm xác định phần đất tranh chấp diện tích 5,4m² tại một phần vị trí khu D1 thuộc quyền sử dụng đất của bà T theo như ranh bản đồ địa chính là có căn cứ, phù hợp theo quy định tại Điều 175 BLDS năm 2015.
Xét thấy, trên phần đất diện tích 5,4m² tại một phần vị trí khu D1 của bà T thì hiện có một phần nhà kiên cố của ông Ú1, bà Ú1 đã xây dựng từ trước khi bà T mua đất, nếu buộc tháo dở nhà sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ căn nhà, gây thiệt hại lớn hơn cho gia đình ông Ú1, bà Ú1 nên Tòa án đã quyết định buộc ông Ú1, bà Úl phải hoàn trả cho bà T số tiền là 69.157.800 đồng (tương đương với diện tích 5,4m²) để ông Ú1, bà Ú1 được tiếp tục sử dụng phần đất này là có căn cứ. Vì vậy, bà T kháng cáo yêu cầu ông Ú1, bà Ú1 phải tháo dở nhà đã xây trên phần đất 5,4m² tại một phần khu D1 để trả lại đất cho bà T là không có cơ sở chấp nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét không chấp nhận kháng cáo của bà Phan Thị Bích T. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của bà Phan Thị Bích T đúng theo quy định tại Điều 272, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét giải quyết theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
[1.2] Về xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án và giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại Điều 26, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa phúc thẩm, những người được Tòa án triệu tập có mặt, người vắng mặt có đơn đề nghị vắng mặt, Tòa án tiến hành xét xử theo trình tự phúc thẩm theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.4] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà T thay đổi yêu cầu kháng cáo, cụ thể bà T chỉ kháng cáo đối với một phần bản án sơ thẩm đã tuyên giải quyết đối với diện tích đất 5,4m² tại một phần khu D1 thuộc thửa 514 và yêu cầu ông Ú1, bà Ú1 tháo dỡ nhà trả đất cho bà T, không đồng ý nhận giá trị đất. Các phần khác Tòa án cấp sơ thẩm tuyên, bà T đồng ý. Do đó, Tòa cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần bản án sơ thẩm trong phạm vi kháng cáo của bà T.
[2] Về nội dung:
[2.1] Các đương sự thống nhất: Theo biên bản thẩm định tại chỗ của Tòa án cấp sơ thẩm ngày 08/3/2023 và Mảnh trích địa chính số 57/LT-2022 được duyệt ngày 08/12/2022, Mảnh trích đo địa chính số 24/B-2022 của công ty TNHH N ngày 20/12/2022 (BL 66, 84, 87, 88) thì trên phần đất diện tích 5,4m2 tại một phần khu D1 của bà T hiện có một phần nhà kiên cố của ông Ú1, bà Úl đã xây dựng từ trước khi bà T mua đất của ông K1, một phần nhà tiền chế 2,75m² do bà H đang sử dụng, một phần mái tole diện tích 0,32m² do bà T1 sử dụng, còn lại diện tích 3,53m² là đất trống hiện nay bà T quản lý. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2.2] Về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Thửa đất 514, tờ bản đồ số 22, diện tích 864m², loại đất ở nông thôn, tọa lạc tại ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Long An đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 002401, ngày 19/4/2017 cho bà Phan Thị Bích T đứng tên là do bà T nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Công K1 và bà Nguyễn Ngọc Thùy D. Do nhận chuyển nhượng trọn thửa nên không có đo đạc diện tích đất thực tế.
Thửa đất số 454 là do do ông Nguyễn Văn Ú và bà Văn Thị Ú1 nhận chuyển nhượng từ ông Phùng Văn H3 và bà Nguyễn Thị K2, có diện tích 500m² vào ngày 27/4/1992 bằng giấy tay, được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Ú ngày 31/12/2010 với diện tích 441,5m². Vào năm 2014, vợ chồng ông Ú, bà Ú đã tặng cho một phần diện tích đất cho các con là bà H và bà T1, hình thành nên thửa 949, diện tích 71m², thửa 933, diện tích 92m², loại đất ở nông thôn, tại ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Long An. Bà T1 và bà H được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/9/2014 và ngày 25/02/2014, khi tách thửa có kiểm tra đo đạc thực tế.
Tại Tòa án cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm, bà Ú thừa nhận khi cất nhà có lấn sang đất của ông K1, trước khi bà T nhận chuyển nhượng thửa đất 514 và khi bà T nhận chuyển nhượng thửa đất 514 thì trên thửa 514 có phần đất diện tích 5,4m² tại một phần vị trí khu D1 có một phần nhà kiên cố của ông Ú, bà Ú đã xây dựng từ trước khi bà T mua đất nên có căn cứ xác định bà Ú, ông Ú có lấn đất tại thửa 514 diện tích 5,4m². Bà Ú đồng ý trả lại giá trị diện tích đất lấn chiếm 5,4m² theo chứng thư thẩm định giá số 86 ngày 17/3/2023 của Công ty cổ phần T3. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T và buộc ông Ú, bà Ú phải hoàn trả cho bà T số tiền là 69.157.800 đồng (tương đương với diện tích 5,4m²) để ông Ú, bà Ú được tiếp tục sử dụng phần đất này là có căn cứ. Vì nếu buộc ông Ú, bà Ú phải tháo dỡ phần nhà trên diện tích đất lấn chiếm sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn bộ căn nhà, gây thiệt hại rất lớn cho gia đình ông Ú, bà Ú. Bà T kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ gì mới nên Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bà T. Các nội dung khác của bản án dân sự số 124/2024/DS-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[3] Từ những phân tích trên, căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm số 124/2024/DS-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà T phải chịu do kháng cáo không được chấp nhận.
[5] Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bà Phan Thị Bích T.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 124/2024/DS-ST ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
Căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 217, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 167, Điều 188 của Luật đất đai năm 2013;
Căn cứ vào Điều 117, Điều 119, khoản 2 Điều 129, Điều 131, Điều 151, Điều 157, Điều 429, Điều 357, Điều 468, Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Bích T về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất đối với bị đơn ông Nguyễn Văn Ú, bà Văn Thị Ú1.
Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn Ú và bà Văn Thị Ú1 hoàn trả giá trị bằng tiền cho bà Phan Thị Bích T số tiền là 69.157.800 đồng (sáu mươi chín triệu, một trăm năm bảy nghìn, tám trăm đồng), tương đương với diện tích 5,4m².
Ông Nguyễn Văn Ú và bà Văn Thị Ú1 được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng phần diện tích 5,4m² tại khu D1.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Bích T về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H, bà Nguyễn Thị Thu T1.
Buộc bà Nguyễn Thị Thu H và chồng là ông Lê Liễu Minh K tháo dỡ phần nhà tạm diện tích 2,75m² tại khu D1 để trả lại đất cho bà T.
Buộc bà Nguyễn Thị Thu T1 và chồng là ông Nguyễn Chí L tháo dỡ phần mái tôn diện tích 0,32m² tại khu D1 để trả lại đất cho bà T.
- Bà Phan Thị Bích T được quyền quản lý, sử dụng phần đất trống diện tích 3,53m² tại khu D.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Bích T về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất đối với ông Nguyễn Văn Ú, bà Văn Thị Ú1, chị Nguyễn Thị Thu H, chị Nguyễn Thị Thu T1 đối với các khu A2 diện tích 1m², khu B2 diện tích 4,2m², khu C diện tích 1,3m².
Ông Nguyễn Văn Ú và bà Văn Thị Ú1 được quyền tiếp tục quản lý, sử dụng khu đất B2 diện tích 4,2m².
Chị Nguyễn Thị Thu H, anh Lê Liễu Minh K được quyền tiếp tục quản lí, sử dụng khu đất C2 diện tích 1,3m².
Chị Nguyễn Thị Thu T1 và anh Nguyễn Chí L được quyền tiếp tục quản lí, sử dụng khu đất khu A diện tích 01m².
Ông Nguyễn Văn Ú và bà Văn Thị Ú1, bà Phan Thị Bích T phải có nghĩa vụ đăng ký điều chỉnh tăng, giảm diện tích đất cho đúng với thực tế sử dụng tại thửa đất 514, 454, tờ bản đồ số 22, tọa lạc tại ấp M, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
(Vị trí các khu A2, B2, C2, D1 theo Mảnh trích đo số 57/LT-2022 ngày 05/12/2022 của Công ty N được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện C duyệt ngày 08/12/2022)
Người được thi hành án và người phải thi hành án có trách nhiệm liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để lập thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).
Trường hợp bên phải thi hành án không giao nộp bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bên được thi hành án được quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Phan Thị Bích T phải chịu 900.000 đồng nhưng được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0009189 ngày 14/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Đước, tỉnh Long An. Trả lại cho bà T số tiền còn dư là 350.000 đồng.
Bà Nguyễn Thị Thu H và ông Lê Liễu Minh K phải chịu 300.000 đồng.
Bà Nguyễn Thị Thu T1 và ông Nguyễn Chí L phải chịu 300.000 đồng.
Ông Nguyễn Văn Ú và bà Văn Thị Ú1 được miễn.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và thẩm định giá: Số tiền là 25.400.000 đồng, bà Phan Thị Bích T chịu số tiền là 12.700.000 đồng, đã nộp đủ. Ông Nguyễn Văn Ú, bà Văn Thị Ú1, bà Nguyễn Thị Thu H, ông Lê Liễu Minh K, bà Nguyễn Thị Thu T1, ông Nguyễn Chí L phải liên đới nộp số tiền là 12.700.000 đồng để hoàn trả cho bà T.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền trên hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Phan Thị Bích T phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà T đã nộp theo biên lai thu tiền số 0018364 ngày 21/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Đước, tỉnh Long An.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: -TANDCC tại TP.HCM; - VKSND tỉnh Long An; - TAND huyện Cần Đước; - Chi cục THADS huyện Cần Đước; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Hữu Nghĩa |
Bản án số 312/2025/DS-PT ngày 09/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 312/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Bích T về tranh chấp ranh giới quyền sử dụng đất đối với bị đơn ông Nguyễn Văn Ú, bà Văn Thị Ú1
