Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 312/2024/HC-PT

Ngày: 19 - 4 - 2024

V/v Khiếu kiện quyết định hành chính.

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Phạm Trí Tuấn

Các Thẩm phán:Ông Hoàng Thanh Dũng

Bà Hồ Thị Thanh Thúy

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Phương Thảo- Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hiến - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 15 và 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 1034/2023/TLST-HC ngày 14 tháng 12 năm 2023 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính”.

Do bản án hành chính sơ thẩm số 1374/2023/HC –ST ngày 14 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị ông Nguyễn Văn S kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 564/2024/QĐ –PT ngày 01 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1965

Địa chỉ: C Đường B, Ấp A, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt ngày 15/4/2024 vắng mặt ngày tuyên án)

Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H

Địa chỉ: H L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện:

-Ông Đoàn T - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.

-Ông Phạm Gia H - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.

-Bà Lê Thị Diễm T1 - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.

Cùng địa chỉ: F L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

1

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C.

    Địa chỉ: Tỉnh lộ 8, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh P

    Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C.

  2. Ủy ban nhân dân xã H, huyện C.

    Địa chỉ: A Tỉnh lộ 8, Ấp A, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1966.

    Địa chỉ: Ấp E, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Bà Nguyễn Thị Bạch T2, sinh năm 1969.

    Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1975.

    Địa chỉ: Ấp A, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  6. Bà Nguyễn Thị Tuyết H1, sinh năm 1978.

    Địa chỉ: B khu phố T, thành phố T, B.

  7. Bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1980.

    Địa chỉ: Ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh Bình Dương.

  8. Ông Nguyễn Quan T4, sinh năm 1982.

    Địa chỉ: A đường T, ấp A, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  9. Bà Phạm Thị Ú, sinh năm 1945.

    Địa chỉ: Tổ A, ấp A, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  10. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1954.

    Địa clử: Tổ A, ấp A, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  11. Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1937.

    Địa chỉ: Tổ E, ấp D, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  12. Ông Nguyễn Văn N2.

    Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

  13. Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1954.

    Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của ông S1, bà T2, ông T3, bà H1, bà N, ông T4, bà Ú, ông D, ông N1, ông N2, ông S: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1965.

  1. Bà Bùi Thị T5.

    Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

2

(Người khởi kiện ông Nguyễn Văn S có mặt ngày 15/4/2024, các đương sự khác vắng mặt)

Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn S – người khởi kiện

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo án sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ thì vụ án có nội dung như sau:

Người khởi kiện xác định vẫn giữ nguyên các yêu cầu khởi kiện về việc: Hủy Quyết định số 1937/QĐ-UBND ngày 19/4/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H.

Lý do khởi kiện: Ông S được thân tộc ủy quyền trong việc khiếu nại xin bồi hoàn tiền đất tại xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, có diện tích đất 1.860 m², thuộc một phần của thửa đất số 116, 117, 118, tờ bản đồ số 2 (Tài liệu 299/TTg), theo bản đồ hiện trạng vị trí số 6515/ĐĐBĐ/CC/2011 do Công ty TNHH Đ2 lập ngày 28/4/2011, nay thuộc một phần thửa đất số 786, 787, tờ bản đồ số 7 (Tài liệu 02/CT-UB), nay thuộc một phần thửa số 38, tờ bản đồ số 16. Hiện phần diện tích đất này là khuôn viên trụ sở Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguồn gốc đất nêu trên của ông nội ông tên Nguyễn Văn P1 và bà nội tên Trần Thị D1 để lại diện tích 4.720 m², nhưng diện tích đất đo thực tế vào năm 1983 là 8.000 m². Trước năm 1975, cha ông S là ông Nguyễn Văn T6 và mẹ là bà Nguyễn Thị C và dượng ông S là ông Nguyễn Văn Đ sản xuất. Đến năm 1982, Ủy ban nhân dân xã H đổi đất để xây dựng trụ sở Ủy ban thì có đổi cho gia tộc ông S là 50 cao đất gò và 20 cao đất ruộng lúa. Gia đình ông S sản xuất được 1 năm thì trường S6 nói đây là khu Quân S2 không cho sản xuất nên quay trở lại phần đất 8.000 m² tiếp tục sản xuất nhưng bị Ủy ban ngăn không cho sản xuất.

Ngày 20/06/1983, Ủy ban nhân dân xã H có quyết định không số (ông Trần Văn N3 ký) với nội dung: Vùng đất quy hoạch xây dựng trụ sở Ủy ban tọa lạc ngã ba đường số H và 4 nằm trên phần đất của ông Nguyễn Văn Đ1 nay con cháu sản xuất.

Năm 1984, Ủy ban nhân dân xã H lại tiếp tục lấy đất của cha ông S để xây dựng 04 phòng học khoảng gần 1.000 m² đất tại ngã tư đường B, Tỉnh lộ 8. Theo Biên bản làm việc của Ủy ban nhân dân huyện C và xã H vào ngày 12/5/1984 thì cha ông S có trình bày đất xây Ủy ban xã là của nhà ông S, sau khi được đổi ra đất đồng mã thì không sử dụng được do là khu quân sự.

Sau khi Ủy ban nhân dân xã H sử dụng phần đất của gia tộc ông S, và căn cứ Quyết định không số, gia tộc ông S được Ủy ban nhân dân xã H cho khoảng 5.000 m² tại Ấp A, xã H (bà Nguyễn Thị C và cha ông S ông Nguyễn Văn T6 đứng ra nhận) vào khoảng giữa năm 1986 và đến đầu năm 1987, ông S đã cất nhà ở trên phần đất được Ủy ban nhân dân xã H để ở và sản xuất. Cuối năm 1987 có biến động đất chủ đất đến đòi lại - không có đất cất nhà ở và sản xuất nên gia tộc ông S phải làm đơn khiếu nại gửi đến Ủy ban nhân dân xã H, Ủy ban nhân dân xã H có

3

biên bản giải quyết vào ngày 09/11/1988 với nội dung vẫn giữ nguyên biên bản trao đổi cùng thời điểm năm 1983 vẫn giữ nguyên hiện trạng nếu có gì khó khăn cản trở thì Ủy ban nhân dân xã H chịu trách nhiệm giải quyết thỏa đáng cho gia đình.

Cùng thời điểm năm 1983, khi Ủy ban nhân dân xã H cũng đã lấy đất của ông Đặng Văn T7, ông M nhưng đến năm 1989 thân tộc ông T7 được hoán đổi đất, thân tộc ông M thì được đền bù đất. Chỉ có gia tộc ông S bị lấy đất để xây dựng trụ sở làm việc thì không được giải quyết.

Gia tộc ông S khiếu nại liên tục (bà Nguyễn Thị C đứng tên khiếu nại). Đến năm 1993, Ủy ban nhân dân xã H lấy phần đất xây đài tưởng niệm xã H làm chợ tạm và bán cho ông Nguyên Minh S3 - Chủ tịch và ông Hà Xuân L - Bí thư xã một nền nhà và bà Huỳnh Mai m nền nhà dời đài tưởng niệm qua khu đất trống Ủy ban xã H nên gia đình ông S4 và bà Nguyễn Thị C không đồng ý dời đền qua phần đất trống xã H chưa đền bù.

Đến ngày 07/8/1993, Ủy ban nhân dân xã H có mời cha ông Sơn Nguyễn Văn T6 và bà Nguyễn Thị C để ra giải quyết đất khu Ủy ban xã. Ngày 12/4/1995, Ủy ban nhân dân xã lại mời cha ông S và bà Nguyễn Thị C ra xem xét chứng kiến việc đo đạc đất tại trụ sở Ủy ban xã H. Trong quá trình giải quyết, Ủy ban xã H chỉ công nhận phần đất để chuẩn bị xây đài tưởng niệm là đền bù còn đường vào Ủy ban thì không giải quyết đền bù. Ủy ban nào đến hết đất Ủy ban xã H chỉ đến 2.860 m². Bà Nguyễn Thị C đã kêu những người không trực tiếp sản xuất phần đất nói trên để nhận tiền đền bù gồm ông Nguyễn Văn N4, Ấp A, xã T, ông Nguyễn Văn D, ấp A xã H, ông Nguyễn Văn T8 xã P, bà Bùi Thị T5 ấp 2A xã H và ông Nguyễn Văn S ấp 5 xã H đến Ủy ban xã H để nhận tiền đền bù cùng bà Nguyễn Thị C. Phiếu chi tiền số 06 của Phòng Địa chính năm 1997 cho bà Nguyễn Thị C ngụ ấp A xã H nhưng phiếu nhận tiền lại ghi ở xã T vào ngày 20/6/1997.

Ông S xác định diện tích đất xây dựng trụ sở Ủy ban nhân dân xã H là 5.475 m², sau trừ lộ giới 765 m² còn lại 4.710 m². Ủy ban chỉ mới giải quyết một phần diện tích đất 2.860 m² với số tiền 143.000.000 đồng (tương đương 50.000 đồng/m²). Phần còn lại 1.860 m² cho đến nay gia đình ông vẫn chưa được giải quyết.

Ngày 29/6/2012, UBND Thành phố có Công văn số 3126/UBND-PCNC yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện C xem xét giải quyết về việc khiếu nại đối với yêu cầu được nhận tiền bồi thường đối với phần đất 1.860 m² của gia tộc ông S theo đúng quy định pháp luật; báo cáo kết quả đến UBND Thành phố và Sở T.

Nhiều năm qua, không biết vì lý do gì ông S là người trực tiếp sản xuất và Ủy ban nhân dân huyện C ban hành những Quyết định số 8077/UBND- TTH, 803/UBND-TTII, 6798/UBND-TTH, 97/QD-UBND và Quyết định giải quyết khiếu nại của Ủy ban nhân dân thành phố H đối với phần diện tích đất 1.860 m² còn lại đều nói ông S là người không trực tiếp sản xuất nên không giải quyết.

Ngày 19/4/2016, Ủy ban nhân dân Thành phố H có Quyết định số 1937/QĐ-UBND với nội dung rằng đã xác minh tình hình nhân thân, nhân khẩu của gia

4

đình ông S, hiện có công việc làm ăn, có cuộc sống ổn định, có căn nhà cấp 4 diện tích 81,5 m² vị trí mặt tiền đường B nhưng diện tích được sử dụng là 16 m². Theo Quyết định 1937 thì ông S không được bồi thường tiền đất mà chỉ hỗ trợ hoa màu, tài sản trên đất cho ông S đối với diện tích đất 1.860 m² theo giá 50.000 đồng/m² và tính lãi suất theo quy định.

Ông S yêu cầu Ủy ban phải bồi thường phần diện tích đất 1.860 m² theo đơn giá hiện nay.

Người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố H trình bày tại cấp sơ thẩm:

Phần đất có diện tích 1.860 m² đã được Ủy ban nhân dân huyện C trưng dụng xây dựng trụ sở Ủy ban nhân dân xã H và con đường đi vào Ủy ban nhân dân xã từ năm 1983 và sử dụng cho đến nay. Ủy ban nhân dân huyện C không ban hành Quyết định thu hồi đất đối với phần đất trên nên không phát sinh việc bồi thường, hỗ trợ thiệt hại và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định pháp luật hiện hành. Do đó, việc ông Nguyễn Văn S (đại diện thân tộc) khiếu nại xin nhận tiền bồi thường đối với phần đất trên là không có cơ sở xem xét, giải quyết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện C trình bày tại cấp sơ thẩm:

Phần đất có diện tích 1.860 m²/4.720 m² thuộc một phần thửa số 787, tờ bản đồ số 7 (theo tài liệu 02/CT-UB); Theo tài liệu bản đồ số thuộc một phần thừa số 38, tờ bản đồ số 16, hiện nay là trụ sở của Ủy ban nhân dân xã H, huyện C có nguồn gốc của ông Nguyễn Văn P1 và bà Trần Thị D1. Ông P1 và bà D2 có tất cả 09 người con gồm:

  1. Ông Nguyễn Văn M1 (chết) có con Dâu là bà Phạm Thị Ú.
  2. Ông Nguyễn Văn D3 (chết không có con).
  3. Bà Nguyễn Thị T9 (chết) có cháu nội là ông Nguyễn Văn D.
  4. Bà Nguyễn Thị M2 (chết) có con là ông Nguyễn Văn N1.
  5. Bà Nguyễn Thị L1 (chết) có con là ông Đặng Văn T10.
  6. Ông Nguyễn Văn P2 (chết) có con là bà Bùi Thị T5.
  7. Bà Nguyễn Thị C1 (tự là C1 ở, đã chết).
  8. Ông Nguyễn Văn C2 (chết) có con là ông Nguyễn Văn N2.
  9. Bà Nguyễn Thị K (chết) có con là ông Nguyễn Văn S.

Trước và sau giải phóng 30/4/1975 phần tổng diện tích 4.720 m² (diện tích thực tế hiện nay là 4.683,7 m²) do bà Nguyễn Thị C1 và ông Nguyễn Văn T6 là con ruột của ông Nguyễn Văn M1 trực tiếp quản lý sử dụng.

Ngày 20 tháng 6 năm 1983, Ủy ban nhân dân xã H ban hành quyết định không số về đình chỉ hoạt động sản xuất, đề nghị thân tộc con cháu ông P1 và bà D1 giao đất để xây dựng trụ sở Ủy ban nhân dân xã và thân tộc đã nhận phần đất hoán đổi tại ấp A, xã H có diện tích khoảng 5.000 m² theo biên bản giải quyết

5

ngày 09 tháng 11 năm 1988, thân tộc do bà Nguyễn Thị C1 là đại diện thân tộc đã đồng ý việc hoán đổi. Nhưng trong quá trình sản xuất thân tộc bà Nguyễn Thị C1 bị chủ đất cũ ngăn cản không sản xuất dược.

Năm 1989, bà Nguyễn Thị C1 và thân tộc khiếu nại đòi lại phần đất trên.

Ngày 01 tháng 7 năm 1994, Thanh tra huyện C có biên bản giải quyết tranh chấp khu đất tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã H với hộ bà Nguyễn Thị C1 và thân tộc. Bà C1 đã đồng ý nhận tiền đền bù phân đất trong khuôn viên khu vực xây dựng trụ sở Ủy ban nhân dân xã H và trả lại phần đất phía sau trụ sở Ủy ban nhân dân xã cho thân tộc bà C1 để làm đất nghĩa địa thân tộc.

Ngày 07 tháng 11 năm 1995, Ủy ban nhân dân xã H tiến hành giải quyết, kết luận: Giữ nguyên hiện trạng đã xây dựng trụ sở Ủy ban nhân dân xã và khuôn viên với diện tích đã nêu trên. Nhưng thân tộc bà C1 không đồng ý mà chỉ thừa nhận một phần diện tích đã xây dựng trụ sở Ủy ban nhân dân xã và phần đường đi vào trụ sở Ủy ban nhân dân xã, còn phần đất trống còn lại của khuôn viên phải giao trả lại cho bà và thân tộc.

Ngày 20 tháng 6 năm 1997, bà C1 đã nhận 143.000.000 đồng (một trăm bốn mươi ba triệu đồng) của phân đất trống khuôn viên Ủy ban nhân dân xã H có diện tích 2.860 m²/4.720 m2. Phần diện tích còn lại là 1.860 m² đã xây dựng trụ sở Ủy ban nhân dân xã và đường đi vào trụ sở Ủy ban nhân dân xã không giải quyết giao trả lại.

Năm 2010, ông Đặng Văn T10, ông Nguyễn Văn N1, ông Nguyễn Văn N2, ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn Văn S, bà Bùi Thị T5 và bà Phạm Thị Ú yêu cầu trả lại phần đất diện tích 1.860 m² đã xây dựng trụ sở Ủy ban nhân dân xã và phần đường đi vào trụ sở Ủy ban nhân dân xã H. Vụ việc đã được Ủy ban nhân dân huyện C ban hành 07 quyết định giải quyết cho 07 cá nhân nêu trên, với nội dung: Bác yêu cầu đòi lại đất của các ông, bà nêu trên, với lý do phần đất nêu trên đã đưa vào phục vụ lợi ích chung từ năm 1983.

Không đồng ý, các ông, bà nêu trên khiếu nại quyết định đến Ủy ban nhân dân Thành phố H.

Ngày 22 tháng 7 năm 2010, Sở T có Công văn số 4531/TNMT-TTS, với nội dung: Đề nghị Ủy ban nhân dân huyện C 07 quyết định riêng lẻ cho từng cá nhân và ban hành một Quyết định giải quyết khiếu nại hoặc hướng dẫn những người trong gia tộc ủy quyền cho một người đại diện đứng đơn khiếu nại và Ủy ban nhân dân huyện C chỉ ban hành một quyết định giải quyết đơn cho người được gia tộc ủy quyền.

Ngày 16 tháng 8 năm 2010, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành 07 quyết định để thu hồi 07 quyết định nêu trên.

Ngày 15 tháng 09 năm 2010, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định mới số 7478/QĐ-UBND, với nội dung: Bác nội dung đơn yêu cầu trả lại đất của các ông (bà) Đặng Văn T10, ông Nguyễn Văn N1, ông Nguyễn Văn N2, ông Nguyễn

6

Vãn D4, ông Nguyễn Văn S, bà Bùi Thị T5 và bà Phạm Thị Ú. Với lý do phần diện tích 1.860 m² đã xây dựng công trình phục vụ cho lợi ích chung.

Không đồng ý, các ông, bà nêu trên tiếp tục khiếu nại đến Ủy ban nhân dân Thành phố H:

Ngày 11 tháng 3 năm 2011, Sở T có Công văn số 1301/TNMT-TTS về việc giải quyết đơn khiếu nại của công dân tại xã H, với nội dung: Đề nghị Ủy ban nhân dân huyện C bổ sung bản vẽ khu đất mà thân tộc các ông bà nêu trên đòi lại, cũng như xác định rõ việc yêu cầu của các ông bà nêu trên, hỗ trợ, bồi thường đất hay yêu cầu trả lại đất.

Ngày 13 tháng 6 năm 2011, Ủy ban nhân dân huyện C có Công văn số 2507/UBND-TNMT gửi đến Sở T, với nội dung: Giữ nguyên quan điểm nội dung của Quyết định số 7478/QĐ-UBND ngày 15/10/2010 của Ủy ban nhân dân huyện C và kèm theo bản vẽ đo đạc của Hợp đồng đo đạc số 6515/ĐĐBĐ/CC/2011 ngày 28/4/2011 và Công văn số 6788 VPĐK-KT ngày 30/5/2011.

Ngày 29 tháng 6 năm 2012, Ủy ban nhân dân Thành phố H có Công văn số 3126/UBND-PCNC, với nội dung: Tại biên bản làm việc ngày 27/3/2012 của Sở T với ông Nguyễn Văn S (đại diện gia tộc) trình bày: Gia tộc ông khẳng định không khiếu nại yêu cầu trả lại đất hoặc hoán đổi đất đối với phần đất có diện tích 1.860 m², mà chỉ khiếu nại yêu cầu được nhận tiền bồi thường đối với phần đất nêu trên với khung giá được tính theo giá thị trường của mặt tiền đường Tỉnh lộ 8, tương tự như trường hợp trước đây của bà Nguyễn Thị C1 (dì ruột ông S) đã được nhận tiền đối với phần đất 2.860 m²/4.720 m². Như vậy đây là tình tiết mới chưa được Ủy ban nhân dân huyện C giải quyết theo thẩm quyền.

Do đó, Ủy ban nhân dân Thành phố giao Ủy ban nhân dân huyện C thực hiện như sau: Thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 7478/QĐ-UBND ngày 15/9/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C và xem xét giải quyết việc khiếu nại yêu cầu nhận tiền bồi thường đối với phần đất 1.860 m² nêu trên của gia tộc ông S theo đúng quy định pháp luật.

Ngày 24 tháng 8 năm 2012, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 7250/QĐ-UBND, với nội dung: Thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 7478/QĐ-UBND ngày 15/9/2010 của Ủy ban nhân dân huyện C.

Đối chiếu phần đất có diện tích 1.860 m² mà ông Nguyễn Văn S (đại diện thân tộc) yêu cầu bồi thường theo các tài liệu bản đồ tại Văn bản số 6788/VPĐK-KT ngày 30/5/2011 của Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất - Sở T cung cấp thì theo Tài liệu 299/TTg thuộc một phần thửa 116, 117, 118, tờ bản đồ số 01, trong đó thửa 116 do Ủy ban nhân dân xã H đăng ký, thửa 118 do ông Nguyễn Văn T6 đăng ký, còn thửa 117 đo bao không ai đăng ký; Theo tài liệu 02/CT-UB thuộc một phần thửa 787, tờ bản đồ số 7, không ai đăng ký; Theo tài liệu bản đồ số thuộc một phần thửa số 38, tờ bản đồ số 16 do Ủy ban nhân dân xã H đăng ký.

Ngày 19 tháng 11 năm 2012, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Công văn số 8077/UBND-TTH, về giải quyết đơn của ông Nguyễn Văn S (đại diện thân tộc), với nội dung: Việc ông Nguyễn Văn S (đại diện thân tộc) yêu cầu xem xét bồi

7

thường đối với phần đất nêu trên là không có cơ sở xem xét giải quyết. Không đồng ý, ông Nguyễn Văn S tiếp tục có đơn yêu cầu giải quyết.

Ngày 01 tháng 02 năm 2013, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Công văn số 803/UBND-TTH, về trả lời đơn của ông Nguyễn Văn S, với nội dung: Giữ nguyên nội dung Công văn số 8077/UBND-TTH ngày 19/11/2012 của Ủy ban nhân dân huyện. Không đồng ý ông Nguyên Văn S5 tiếp tục có đơn yêu cầu giải quyết.

Ngày 10 tháng 9 năm 2013, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Công văn số 6798/UBND-TTH, về trả lời đơn của ông Nguyên Văn S5, với nội dung: Giữ nguyên nội dung Công văn số 803/UBND-TTH ngày 01/02/2013 của ủy ban nhân dân huyện. Không đồng ý, ông Nguyễn Văn S tiêp tục có đơn yêu cầu giải quyết.

Ngày 06 tháng 01 năm 2015, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 97/QĐ-UBND, với nội dung: Giữ nguyên Công văn số 8077/UBND-TTH ngày 19/11/2012, Công văn số 803/UBND-TTH ngày 01/02/2013 và Công văn số 6798/UBND-TTH ngày 10/9/2013 của Ủy ban nhân dân huyện C. Bác nội dung đơn của ông Nguyễn Văn S (đại diện thân tộc). Không đồng ý, ông Nguyễn Văn S khiếu nại quyết định đến Ủy ban nhân dân Thành phố.

Ngày 19 tháng 4 năm 2016, Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành Quyết định số 1937/QĐ-UBND, với nội dung: Công nhận nội dung Quyết định số 97/QĐ-UBND ngày 06/01/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Văn S (đại diện thân tộc) là đúng pháp luật. Giao Ủy ban nhân dân huyện C xem xét giải quyết hỗ trợ cho ông Nguyễn Văn S (đại diện thân tộc) đối với phần đất diện tích 1.860 m² theo đơn giá 50.000 đồng/m2, có cộng thêm lãi suất theo quy định.

Do đó, Ủy ban đề nghị Hội đồng xét xử các cấp xem xét giải quyết vụ án nêu trên theo đúng quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã H, huyện C trình bày:

Thống nhất với ý kiến của Ủy ban nhân dân huyện C. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn S1, bà Nguyễn Thị Bạch T2, ông Nguyên Văn T11, bà Nguyên Thị Tuyết H2, bà Nguyễn Thị Tuyết N5, ông Nguyễn Quan T4, bà Phạm Thị Ú, ông Nguyễn Văn D5, ông Nguyễn Văn N1, ông Nguyễn Văn N2, ông Nguyễn Văn S (sinh năm 1954) là ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1965 có ý kiến: Thống nhất với ý kiến của người khởi kiện Nguyễn Văn S .

Tại phiên tòa sơ thẩm ông Nguyễn Văn S giữ nguyên ý kiến đã trình bày.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 1374/2023/HC –ST ngày 14/8/2023 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, Điều 193, Điều 206 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;

8

Mục 5 Quyết định số 201/CP ngày 01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn S về yêu cầu hủy Quyết định số 1937/QĐ-UBND ngày 19/4/2016 về việc giải quyết khiếu nại lần 2 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H.
  2. Về án phí: ông Nguyễn Văn S phải nộp 300.000 đồng án phí hành chính sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số AE/2011/02806 ngày 18/5/2016 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Văn S đã nộp đủ án phí hành chính sơ thẩm.

Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 19 tháng 8 năm 2023 ông Nguyễn Văn S có đơn kháng cáo với nội dung yêu cầu hủy bản án sơ thẩm số 1374/2023/HC-ST ngày 14 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông là: Hủy quyết định số 1937/QĐ –UBND ngày 19/4/2016 của UBND Thành phố H và yêu cầu được bồi thường đối với diện tích 1.860 m², thuộc thửa 118 theo giá trị hiện nay (bl 483, 484).

Tại phiên tòa phúc thẩm ông S xác định nội dung kháng cáo: Sửa án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông là: Hủy quyết định số 1937/QĐ -UBND ngày 19/4/2016 của UBND Thành phố H và yêu cầu được bồi thường đối với diện tích 1,860 m², thuộc thửa 118 theo giá trị hiện nay. Lý do sau:

  • Phần đất diện tích 1.860 m², loại đất: ĐM, thửa 118, tên chủ sử dụng ông Nguyễn Văn T6 theo tài liệu Chỉ thị 299/TTg do UBND xã P lập ngày 30/01/1985, UBND huyện C lập ngày 06/7/1985 tại Công văn số 6788/VPĐK của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Sở T: xác định phần đất này do ông T6 là người đăng ký sổ địa chính.
  • Quyết định của UBND xã H ngày 20/6/1983 không thể hiện cụ thể thửa đất, tờ bản đồ, diện tích thu hồi.
  • Công văn số 1301/TNMT – TTS ngày 11/3/2011 của Sở T.
  • Công văn số 97/QĐ –UBND ngày 06 tháng 01 năm 2015 của UBND huyện C.
  • Biên bản gặp gỡ đối thoại của Sở T ngày 20/8/2015.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

+ Về tố tụng: Tòa án đã thực hiện đúng các quy định pháp luật tố tụng hành chính từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tại phiên tòa sơ thẩm cho đến trước khi nghị

9

án, Hội đồng xét xử, thư ký đã tiến hành phiên tòa đúng trình tự, thủ tục quy định của Luật Tố tụng hành chính; các đương sự đã thực hiện đầy quyền và nghĩa vụ của bản thân do Luật Tố tụng hành chính quy định.

+ Về nội dung: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì không có cơ sở xem xét yêu cầu của ông Nguyễn Văn S về việc hủy Quyết định số 1937/QĐ-UBND ngày 19/4/2016 của Chủ tịch ủy ban nhân dân Thành phố H. Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của ông S là phù hợp với quy định của pháp luật. Ông S kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ gì mới ngoài lời trình bày. Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông S, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn S làm trong hạn luật định, hợp lệ về hình thức nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Ông Nguyễn Văn S (đại diện gia tộc) khiếu nại xin nhận tiền bồi thường phần đất có diện tích 1.860 m²/4.720 m² thuộc một phần thửa đất 116, 117, 118 và một phần đường, tờ bản đồ số 2, xã H, huyện C (Theo tài liệu 299/TTg), có vị trí được xác định theo Bản đồ hiện trạng vị trí 6515/DDBD/CC/2011 do Công ty TNHH Đ2 lập ngày 28 tháng 4 năm 2011. Trước giải phóng phần đất có tổng diện tích 4.720 m² do ông P1 và bà D1 quản lý sử dụng, sau giải phóng con cháu ông P1 và bà D1 tiếp tụng quản lý, sử dụng. Năm 1983, phần đất trên được quy hoạch để xây dựng trụ sở của Ủy ban nhân dân xã H. Ngày 20/6/1983, Ủy ban nhân dân xã H, đề nghị các hộ trong thân tộc của con cháu ông P1 và bà D1 giao đất để xây dựng trụ sở Ủy ban nhân dân xã.

Ngày 20/6/1997, phía gia tộc ông S đã nhận 143.000.000đ đối với phần đất trống trong khuôn viên Ủy ban nhân dân xã có diện tích 2.860 m². Phần diện tích đất 1.860 m² còn lại đã xây dựng trụ sở Ủy ban nhân dân xã H và không đồng ý bồi thường đối với phần diện tích 1.860 m². Ông Nguyễn Văn S (đại diện cho gia tộc) không đồng ý với Quyết định của Ủy ban nên ông đã khiếu nại.

Ngày 19 tháng 11 năm 2012, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Công văn số 8077/UBND-TTH, về giải quyết đơn của ông Nguyễn Văn S với nội dung: yêu cầu xem xét bồi thường đối với phần đất nêu trên của ông S là không có cơ sở xem xét giải quyết. Không đồng ý, ông Nguyễn Văn S tiếp tục có đơn yêu cầu giải quyết.

Ngày 01 tháng 02 năm 2013, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Công văn số 803/UBND-TTH, về trả lời đơn của ông Nguyễn Văn S, với nội dung: Giữ nguyên nội dung Công văn số 8077/UBND-TTH ngày 19/11/2012 của Ủy ban

10

nhân dân huyện. Không đồng ý ông Nguyên Văn S5 tiếp tục có đơn yêu cầu giải quyết.

Ngày 10 tháng 9 năm 2013, Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Công văn số 6798/UBND-TTH, về trả lời đơn của ông Nguyên Văn S5, với nội dung: Giữ nguyên nội dung Công văn số 803/UBND-TTH ngày 01/02/2013 của ủy ban nhân dân huyện. Không đồng ý, ông Nguyễn Văn S tiêp tục có đơn yêu cầu giải quyết.

Ngày 06 tháng 01 năm 2015, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại số 97/QĐ-UBND, với nội dung: Giữ nguyên Công văn số 8077/UBND-TTH ngày 19/11/2012, Công văn số 803/UBND-TTH ngày 01/02/2013 và Công văn số 6798/UBND-TTH ngày 10/9/2013 của Ủy ban nhân dân huyện C. Bác nội dung đơn của ông Nguyễn Văn S (đại diện thân tộc). Không đồng ý, ông Nguyễn Văn S khiếu nại quyết định đến Ủy ban nhân dân Thành phố.

Ngày 19 tháng 4 năm 2016, Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành Quyết định số 1937/QĐ-UBND, với nội dung: Công nhận nội dung Quyết định số 97/QĐ-UBND ngày 06/01/2015 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Văn S (đại diện thân tộc) là đúng pháp luật. Giao Ủy ban nhân dân huyện C xem xét giải quyết hỗ trợ cho ông Nguyễn Văn S (đại diện thân tộc) đối với phần đất diện tích 1.860 m² theo đơn giá 50.000 đồng/m2, có cộng thêm lãi suất theo quy định.

[2.2] Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 19/4/2016, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành Quyết định số 1937/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Văn S. Cùng năm 2016, ông S nộp đơn khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định hành chính nêu trên. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính năm 2015 xác định vụ án còn trong thời hiệu khởi kiện là có căn cứ.

[2.3] Xét nội dung kháng cáo, khởi kiện của ông Nguyễn Văn S, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy:

[2.3.1]Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành quyết định:

Ngày 06/01/2015, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C ban hành Quyết định số 97/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Văn S đối với Công văn số 6789/UBND-TTH ngày 10/9/2013.

Không đồng ý với quyết định trên, ông S tiếp tục khiếu nại. Ngày 19/4/2016, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành Quyết định số 1937/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần 2 đối với ông Nguyễn Văn S.

Căn cứ Điều 21, Mục 3 Luật Khiếu nại năm 2011 thì việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành Quyết định số 1937/QĐ-UBND ngày 19/4/2016 là đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền.

[2.3.2]Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn S: Phần đất có diện tích 1.860 m² thuộc một phần thửa số 116, 117, 118 và một phần đường, tờ bản đồ số 2 (Tài liệu 299/TTg) tọa lạc tại xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh hiện đang là trụ sở Ủy ban nhân dân ủy ban nhân dân xã H.

11

Năm 1983, Ủy ban nhân dân xã H thu hồi phần đất trên của gia tộc ông S để xây dựng trụ sở Ủy ban nhân dân xã H.

Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ:

Điểm c khoản 3 Mục 5 Quyết định số 201/CP ngày 01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước có quy định:

“c) Nếu việc thu hồi không phải là do lỗi của người sử dụng đất hoặc bị trưng dụng đất thì giải quyết như sau:

-Trường hợp người có đất bị thu hồi hoặc bị trưng dụng cần phải có đất để sử dụng thì được cấp đất khác.

-Nếu trên khoảnh đất bị thu hồi hoặc bị trưng dụng có nhà cửa, công trình xây dựng khác, hoặc trồng cây lâu năm hoặc trồng cây ngắn ngày chưa kịp thu hoạch đã phải phá bỏ, thì được bồi thường thích đáng. Tổng cục ruộng đát cùng Bộ T12 nghiên cứu trình Chỉnh phủ quy định khoản tiền bồi thường này. Trong khi chờ văn bản quy định chung, thì Uy ban nhân dân tỉnh, thành phô trực thuộc Trung ương tạm thời quy định cho địa phương”.

Từ đó xác định: pháp luật về đất đai thời kì này không có quy định về việc bồi thường đất khi bị thu hồi mà chỉ bồi thường vật kiến trúc, cây cối, hoa màu trên đất nên ông S (đại diện gia tộc) yêu cầu được bồi thường phần đất có diện tích đất 1.860 m² là không có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên phần Quyết định giải quyết khiếu nại số 1937/QĐ-UBND ngày 19/4/2016 Chủ tịch ủy ban nhân dân Thành phố H giao cho Ủy ban nhân dân huyện C giải quyết hỗ trợ cho thân tộc ông Nguyễn Văn S đối với phần đất trên theo đơn giá 50.000 đồng/m², có cộng thêm lãi suất theo quy định, đã đảm bảo quyền lợi cho ông S.

Mặt khác, theo quy định tại Điều 4 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính Phủ về hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2003: Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất và không xem xét giải quyết khiếu nại về việc đòi lại đất mà nhà nước đã giao cho người khác sử dụng theo các chính sách ruộng đất trước ngày 15/10/1993 trong các trường hợp sau: Đất đã hiến tặng cho Nhà nước, cho hợp tác xã và tổ chức khác, cho hộ gia đình, cá nhân.

[2.4] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành Quyết định số 1937/QĐ-UBND ngày 19/4/2016 là đúng quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn S là có căn cứ.

Ông Nguyễn Văn S kháng cáo nhưng không đưa ra được tài liệu, chứng cứ mới chứng minh nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn S, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.

[3] Do kháng cáo của người khởi kiện không được chấp nhận nên người khởi kiện phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

12

[4] Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính;

Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn S, giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 1374/2023/HC –ST ngày 14 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên xử:

Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 3 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, Điều 193, Điều 206 Luật Tố tụng hành chính năm 2015;

Mục 5 Quyết định số 201/CP ngày 01/7/1980 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý ruộng đất trong cả nước;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn S về yêu cầu hủy Quyết định số 1937/QĐ-UBND ngày 19/4/2016 về việc giải quyết khiếu nại lần 2 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
  2. Về án phí: ông Nguyễn Văn S phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hành chính sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hành chính phúc thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số AE/2011/02806 ngày 18/5/2016 và AA/2022/0002459 ngày 12/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Văn S đã nộp đủ án phí hành chính sơ và phúc thẩm.

Các phần khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP. HCM;
  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - Cục THADS TP. HCM;
  • - ĐS (5);
  • - Lưu VP (3), HS (2).25b.TTPT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Trí Tuấn

13

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 312/2024/HC-PT ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính

  • Số bản án: 312/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Văn S kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính” Tuyên xử Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Sơn, giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 1374/2023/HC –ST ngày 14 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger