|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 312/2021/HNGĐ-ST Ngày 07 tháng 6 năm 2021 V/v: “Tranh chấp về ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Long
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Phan Thị Hà
- Bà Phạm Thị Kim Dung
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thùy Linh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thu Trang – Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 175/2021/TLST – HN&GĐ ngày 01 tháng 4 năm 2021 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 189/2021/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Lan A, sinh năm 1980, Chứng minh nhân dân số: [...] ngày cấp: 16/7/2014 tại Cục cảnh sát ĐKQL cư trú và DLQG về dân cư, Đăng ký hộ khẩu: số 121 phố H, phường H, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội; Địa chỉ: số 53 phố N, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Anh Đỗ Mạnh C, sinh năm 1970; Chứng minh nhân dân số: [...] cấp ngày: 08/02/2013 tại Cục cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội, Đăng ký hộ khẩu: số 121 phố H, phường H, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Số 22, ngõ 435 Đội Cấn, phường Vĩnh Phúc, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
(Chị A, anh C có mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các tài liệu chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Lan A trình bày như sau:
Chị A và anh C có đăng ký kết hôn vào ngày 04 tháng 3 năm 2003 tại UBND phường H, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn anh chị về sinh sống tại số 121 phố H, phường H, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Khoảng năm 2014 gia đình nhà chồng chị đã bán nhà đất tại số 121 phố H. Sau đó, vợ chồng chị chuyển vào Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống một thời gian. Đến năm 2016 vợ chồng chị chuyển ra Hà Nội và đi thuê nhà ở nhiều nơi để sinh sống. Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị hạnh phúc đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Khi mâu thuẫn xảy ra gia đình hai bên có biết và hòa giải nhưng không có kết quả. Khi mâu thuẫn xảy ra vợ chồng chị đã sống ly thân từ cuối năm 2020 đến nay. Chị A chuyển về ở nhà bố mẹ đẻ tại 53 N, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội. Nay chị A xác định không còn tình cảm với anh C, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C.
- Về con chung: Vợ chồng có 04 con chung là cháu Đỗ Minh A, sinh ngày 10 tháng 12 năm 2003, cháu Đỗ Bảo A, sinh ngày 26 tháng 4 năm 2012, cháu Đỗ Hoài A, sinh ngày 19 tháng 11 năm 2014 và cháu Đỗ Quang M, sinh ngày 07 tháng 3 năm 2017. Khi ly hôn chị A có nguyện vọng trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là cháu Hoài A và cháu Quang M và đồng ý để anh C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là cháu Minh A và cháu Bảo A. Hai bên không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi các con chung cho nhau.
- Về tài sản chung và nhà ở: Chị A xác nhận tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn chị tự lo về nhà ở.
- Về khoản nợ: Chị A xác nhận không vay nợ nhau, không vay nợ ai và không cho ai vay nợ.
* Bị đơn: Anh Đỗ Mạnh C trình bày:
- Về tình cảm: Anh và chị A có tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn đúng như chị A trình bày. Về mâu thuẫn chỉ do cách nuôi dạy con chung ngoài ra không có mâu thuẫn nào khác. Khi mâu thuẫn xảy ra gia đình hai bên có biết và hòa giải nhưng không có kết quả. Nay anh xác định vẫn còn tình cảm với chị A, chị A làm đơn xin ly hôn anh, anh không đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng có 04 con chung là cháu Đỗ Minh A, sinh ngày 10 tháng 12 năm 2003, cháu Đỗ Bảo A, sinh ngày 26 tháng 4 năm 2012, cháu Đỗ Hoài A, sinh ngày 19 tháng 11 năm 2014 và cháu Đỗ Quang M, sinh ngày 07 tháng 3 năm 2017. Do anh C không đồng ý ly hôn nên không đề nghị giải quyết.
- Về tài sản chung và nhà ở: Anh C xác nhận tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn anh tự lo về chỗ ở.
- Về khoản vay nợ: Anh xác nhận vợ chồng không vay nợ nhau, không vay nợ ai và không cho ai vay nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa ngày hôm nay nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện.
- Về tình cảm: chị A vẫn yêu cầu xin được ly hôn với anh C.
- Về con chung: Anh C có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đỗ Minh A và cháu Đỗ Bảo A; chị A có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đỗ Hoài A và cháu Đỗ Quang M. Hai bên không có tranh chấp về người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục các con chung.
- Về tài sản chung và nhà ở và về khoản vay nợ: Hai bên xác nhận tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Lan A và anh Đỗ Mạnh C có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Anh Đỗ Mạnh C có cư trú tại số 22, ngõ 435 Đội Cấn, phường Vĩnh Phúc, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân quận Ba Đình thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.
[2] Về nội dung: Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Lan A và anh Đỗ Mạnh C là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2020 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, sống không hợp nhau, không hạnh phúc. Khi mâu thuẫn xảy ra gia đình hai bên có biết và hòa giải nhưng không có kết quả. Nay chị A xác định không còn tình cảm với anh C, mục đích hôn nhân không đạt được, không có khả năng đoàn tụ nên giải quyết cho chị A được ly hôn với anh C.
...
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39: Điều 70; khoản 4 Điều 147; Điều 203; 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;
Xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Lan A;
Chị Nguyễn Lan A được ly hôn với anh Đỗ Mạnh C.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Đỗ Minh A, sinh ngày 10 tháng 12 năm 2003 và cháu Đỗ Bảo A, sinh ngày 26 tháng 4 năm 2012 cho anh C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục; Giao con chung là Đỗ Hoài A, sinh ngày 19 tháng 11 năm 2014 và cháu Đỗ Quang M, sinh ngày 07 tháng 3 năm 2017 cho chị A trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Việc giao con được thực hiện kể từ tháng 6 năm 2021 đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác của pháp luật. Hai bên không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi các con chung cho nhau.
3. Về tài sản chung và nhà ở: Chị Nguyễn Lan A và anh Đỗ Mạnh C xác nhận xin tự thỏa thuận về tài sản chung và nhà ở, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: Chị Nguyễn Lan A phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng đã nộp theo biên lai thu số 0067004 ngày 01 tháng 4 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
|
Nơi nhận: - Các đương sự; - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình; - Chi Cục THA dân sự quận Ba Đình; - UBND phường H, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội; - Lưu hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Ngọc Long |
Bản án số 312/2021/HNGĐ-ST ngày 07/06/2021 của Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 312/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị A và anh C có đăng ký kết hôn vào ngày 04 tháng 3 năm 2003 tại UBND phường H, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Sau khi kết hôn anh chị về sinh sống tại số 121 phố H, phường H, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Khoảng năm 2014 gia đình nhà chồng chị đã bán nhà đất tại số 121 phố H. Sau đó, vợ chồng chị chuyển vào Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống một thời gian. Đến năm 2016 vợ chồng chị chuyển ra Hà Nội và đi thuê nhà ở nhiều nơi để sinh sống. Trong quá trình chung sống, vợ chồng chị hạnh phúc đến cuối năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Khi mâu thuẫn xảy ra gia đình hai bên có biết và hòa giải nhưng không có kết quả. Khi mâu thuẫn xảy ra vợ chồng chị đã sống ly thân từ cuối năm 2020 đến nay. Chị A chuyển về ở nhà bố mẹ đẻ tại 53 N, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội. Nay chị A xác định không còn tình cảm với anh C, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C.
