|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 3116/2024/DS-ST
Ngày: 15/07/2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán phiếu tái định cư .
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Lũy.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Phước
- Ông Trần Đăng Vạn
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Luân – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 11 tháng 07 năm 2024 và 15 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 469/2021/TLST-DS ngày 04 tháng 10 năm 2021 về việc: “ Tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán phiếu tái định cư ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1289/2024/QĐXXST- DS ngày 20 tháng 05 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 983/2024/QĐ- HPT ngày 11 tháng 06 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Bùi Đỗ H, sinh năm 1966
Địa chỉ: E đường D, khu dân cư T, phường L, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Hiện trú tại: Số A, Đ, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
Ủy quyền bà Nguyễn Kiều G, sinh năm 1968
Trú tại: D23CXVH, B, Phường B, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Minh N, sinh năm 1959
Trú tại: 3 U, U, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ủy quyền bà Nguyễn Thị Hồng Y.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm 1935
- Bà Vũ Phan Hương G1, sinh năm 1979
- Bà Nguyễn Ngọc H1, sinh năm 1971
- Ông Lê Thanh L, sinh năm 1940 ( Chết )
- Bà Lê Thị H2 ( vợ )
- Bà Lê Thị N2 ( vợ )
- Lê Kiều Chinh
- Lê Quốc H3
- Lê Thanh T1
- Bà Lê Thị H2, sinh năm 1967 ( Vợ ông L)
- Bà Lê Thị N2, sinh năm 1961, ( Vợ ông L)
- Bà Lê Thị S, sinh năm 1960
Địa chỉ: 3 U, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: E đường D, khu dân cư T, phường L, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hiện trú tại: Số A, Đ, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ: D T, phường A, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: 1, khu phố C, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Lê Thanh L :
Trú tại: 1627/50/3, khu phố C, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trú tại: C, Tổ D, khu phố C, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Trú tại: 1627/50/3, khu phố C, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng trú tại: C, Tổ D, khu phố C, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: 1, khu phố C, phường P, Quận G,Thành phố Hồ Chí Minh.
Trú tại C, Tổ D, khu phố C, phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: H, tổ D. Khu phố C, phường A, Quận B nay là phường T, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Bà G1, bà Y có mặt, bà G1 có đơn xin vắng, ông N1, bà H1, bà H2, bà N2, ông C, ông H3, ông T1, bà S vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, tại bản tự khai, tại biên bản hòa giải và tại phiên Tòa ngày hôm nay nguyên đơn ông Bùi Đỗ H có bà Nguyễn Kiều G là đại diện theo ủy quyền trình bày như sau:
Nguyên vào ngày 9 tháng 9 năm 2007 ông Bùi Đỗ H có đặt cọc cho bà Nguyễn Thị Minh N để mua căn hộ tái định cư ở cao ốc A, khu dân cư A - A, Quận B diện tích là 140 m, với giá tiền thỏa thuận là 10.200.000 đồng/m, tổng cộng là 1.428.000.000 đồng. Cùng ngày ông Bùi Đỗ H đã đặt cọc cho bà Nguyễn Thị Minh N 100.000.000 đồng và ngày 11 tháng 9 năm 2007 ông Bùi Đỗ H đã đặt cọc cho thêm cho Nguyễn Thị Minh N số tiền 782.000.000 đồng. Tổng cộng số tiền đặt cọc ông đã giao cho bà Nguyễn Thị Minh N là 882.000.000 đồng, số tiền còn lại là 546.000.000 đồng ông Bùi Đỗ H sẽ tự đóng theo tiến độ khi được chủ phiếu tái định cư là ông Lê Thanh L ủy quyền và nhận nhà. Khi ông Bùi Đỗ H đặt cọc, bà Nguyễn Thị Minh N đã trực tiếp viết giấy nhận cọc và ký nhận tiền vào ngày 09 tháng 9 năm 2007 và ngày 11 tháng 9 năm 2007. Nguồn gốc phiếu tái định cư căn hộ số D tầng A chung cư A, Quận B mà bà Nguyễn Thị Minh N nhận cọc bán cho ông Bùi Đỗ H là của ông Lê Thanh L. Ông Lê Thanh L là chủ sở hữu căn nhà bị giải tỏa tại số C tổ D, khu phố C, phường A, Quận B bị giải tỏa và được bố trí tái định cư căn hộ số 04 tầng 14, chung cư A, khu phố E, phường A, Quận B. Căn hộ thời điểm đó chưa bàn giao, chỉ có trên phiếu, ông Lê Thanh L đã bán phiếu tái định cư trên bằng giấy viết tay cho bà Phạm Thị Hà H4, bà Nguyễn Ngọc H1. Bà Nguyễn Ngọc H1 chuyển nhượng phiếu tái định cư cho bà Nguyễn Thị Minh N, bà Nguyễn Thị Minh N nhận cọc chuyển nhượng lại cho ông Bùi Đỗ H như đã nêu trên. Kể từ ngày giao đủ tiền cho bà Nguyễn Thị Minh N, ông Bùi Đỗ H đã làm các thủ tục liên quan đến việc đền bù giải tỏa để được nhận căn hộ chung cư theo thỏa thuận mua bán giữa ông Bùi Đỗ H và bà Nguyễn Thị Minh N. Tuy nhiên sau 2 năm, ông Bùi Đỗ H vẫn không nhận được căn hộ chung cư mà bà Nguyễn Thị Minh N đã nhận cọc chuyển nhượng cho ông Bùi Đỗ H theo thoả thuận ngày 9 tháng 3 năm 2009. Ông Bùi Đỗ H đã khởi kiện ông Lê Thanh L và Lê Thị H2 tại Tòa án nhân dân Quận 2 và được Tòa án nhân dân Quận 2 xét xử chấp nhận yêu cầu của ông Bùi Đỗ H. Nhưng bản án đã bị kháng cáo và tại bản án phúc thẩm số 733/2011/DS-PT ngày 29 tháng 6 năm 2011 ngày 29 tháng 6 năm 2011 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử chấp nhận
kháng cáo của ông Lê Thanh L và Lê Thị H2, Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử dành quyền khởi kiện cho ông Bùi Đỗ H trong một vụ án khác đối với bà Nguyễn Thị Minh N khi có yêu cầu. Để bảo vệ quyền lợi của mình, năm 2012 ông Bùi đỗ H đã có đơn khởi kiện bà Nguyễn Thị Minh N ra Tòa án nhân dân Quận 2, yêu cầu bà Nguyễn Thị Minh N và chồng là ông Nguyễn Văn N1 phải trả lại cho ông Bùi Đỗ H và vợ là bà Vũ Phan Hương G1 số tiền 882.000.000 đồng tiền mà bà Nguyễn Thị Minh N và chồng là ông Nguyễn Văn N1 đã nhận cọc. Ngày 24 tháng 4 năm 2013, Tòa án nhân dân Quận 2 xử chấp nhận yêu cầu của ông Bùi Đỗ H. Bà Nguyễn Thị Minh N kháng cáo và tại bản án phúc thẩm số 1352/2013/DS-PT ngày 26 tháng 9 năm 2013 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Minh N, Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử dành quyền khởi kiện cho bà Nguyễn Thị Minh N và ông Nguyễn Văn N1 quyền khởi kiện trong một vụ án khác đối với bà Nguyễn Ngọc H1 khi có yêu cầu.
Ngày 20 tháng 03 năm 2014, Tòa án nhân dân Tối cao có Kháng nghị giám đốc thẩm số 79/2014/KN-DS. Ngày 09 tháng 06 năm 2014, Tòa dân sự Tòa án nhân dân Tối cao ban hành Quyết định giám đốc thẩm số 221/2014/DS-GĐT với Quyết định chấp nhận Kháng nghị số 79/2014/KN-DS ngày 20 tháng 03 năm 2014, hủy toàn bộ bản án phúc thẩm số 1352/2013/DS-PT ngày 26 tháng 9 năm 2013 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số 12/1013/DS-ST ngày 24 tháng 04 năm 2013 của Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh về vụ án Tranh chấp hợp đồng đặt cọc giữa nguyên đơn ông Bùi Đỗ H với bị đơn bà Nguyễn Thị Minh N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vũ Phan Hương G1, ông Nguyễn Văn N1. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm lại vụ án.
Bản án phúc thẩm số 1352/2013/DS-PT ngày 26 tháng 9 năm 2013 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có hiệu lực pháp luật thi hành. Bà Nguyễn Thị Minh N và ông Nguyễn Văn N1 đã trả cho ông Bùi Đỗ H, bà Vũ Phan Hương G1 số tiền 200.000.000 ( Hai trăm triệu ) đồng, số tiền còn lại là 682.000.000( S1 trăm tám mươi hai triệu) đồng . Tại phiên Tòa ngày hôm nay, bà Nguyễn Kiều G đại diện theo ủy quyền của ông Bùi Đỗ H yêu cầu bà Nguyễn Thị Minh N và ông Nguyễn Văn N1 trả số tiền còn lại là 682.000.000 ( S1 trăm tám mươi hai triệu) đồng, trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Minh N ủy quyền bà Nguyễn Thị Hồng Y làm đại diện trình bày:
Bà là người đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Minh N, bà đã nghe bà Nguyễn Kiều G đại diện theo ủy quyền của ông Bùi Đỗ H trình bày nội dung và yêu cầu khởi kiện, bà thống nhất nội dung cũng như yêu cầu mà ông Bùi Đỗ H đưa ra, bà Nguyễn Thị Minh N và ông Nguyễn Văn N1 đồng ý trả cho ông Bùi Đỗ H số tiền còn lại là 682.000.000 ( S1 trăm tám mươi hai triệu) đồng, trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Về yêu cầu độc lập đối với bà Nguyễn Ngọc H1: Theo nỗi dung của hợp đồng môi giới bất động sản đã được ký kết giữa bà Nguyễn Ngọc H1 và bà Nguyễn Thị Minh N thì bà Nguyễn Thị Minh N đã giao cho bà Nguyễn Ngọc H1 số tiền 812.000.000 ( Tám trăm mươi hai triệu ) đồng, nay bà Nguyễn Thị Minh N yêu cầu và Nguyễn Ngọc H1 trả lại cho bà Nguyễn Thị Minh N số tiền 812.000.000 đồng. Trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Vũ Phan Hương G1 tuy vắng mặt nhưng đã có lời khai có nội dung thống nhất nội dung cũng như yêu cầu của chồng là ông Bùi Đỗ H.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn N1, bà Nguyễn Ngọc H1, bà Lê Thị H2, bà Lê Thị N2, ông Lê Kiều C, ông Lê Quốc H3, ông Lê Thanh T1, bà Lê Thị S vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng nên Tòa không thu thập được lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa có bà Nguyễn Ngọc B - Kiểm sát viên phát biểu:
Về tố tụng: Vụ án trên đã được Toà án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết đúng theo trình tự mà Bộ luật Tố tụng dân sự đã quy định. Tuy nhiên về thời hạn đưa vụ án ra xét xử có vi phạm, cần phải rút kinh nghiệm
Về nội dung yêu cầu của nguyên đơn: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ và chứng minh công khai tại phiên tòa, bị đơn chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận, yêu cầu độc lập của bị đơn bà Nguyễn Thị Minh N đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Ngọc H1 là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Minh N.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Quan hệ tranh chấp giữa ông Bùi Đỗ H và bà Nguyễn Thị M là tranh chấp hợp đồng dân sự, nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án nhân dân quận, huyện. Đối tượng tranh chấp là phiếu tái định cư mà suất tái định là căn hộ mà căn hộ tọa lạc trên địa bàn Thành phố T nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự quan hệ tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là bà Vũ Phan Hương G1, bà Vũ Phan Hương G1 đã có đơn yêu cầu được vắng mặt, yêu cầu của bà Vũ Phan Hương G1 là không trái quy định pháp luật.
[1.3] Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là ông Nguyễn Văn N1, bà Nguyễn Ngọc H1, bà Lê Thị H2, bà Lê Thị N2, ông Lê Kiều C, ông Lê Quốc H3, ông Lê Thanh T1, bà Lê Thị S. Trong quá trình tố tụng, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Nguyễn Văn N1, bà Nguyễn Ngọc H1, bà Lê Thị H2, bà Lê Thị N2, ông Lê Kiều C, ông Lê Quốc H3, ông Lê Thanh T1, bà Lê Thị S, tuy nhiên ông Nguyễn Văn N1, bà Nguyễn Ngọc H1, bà Lê Thị H2, bà Lê Thị N2, ông Lê Kiều C, ông Lê Quốc H3, ông Lê Thanh T1, bà Lê Thị S vẫn không đến tòa cung cấp bản tự khai. Hành vi không đến tòa của ông Nguyễn Văn N1, bà Nguyễn Ngọc H1, bà Lê Thị H2, bà Lê Thị N2, ông Lê Kiều C, ông Lê Quốc H3, ông Lê Thanh T1, bà Lê Thị S đã thể hiện sự không tôn trọng pháp luật, không tôn trọng Toà án, hành vi trên cũng đồng nghĩa với việc tự từ bỏ nghĩa vụ cũng như quyền lợi của mình mà pháp luật đã quy định. Căn cứ vào quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
[1.4]. Trong quá trình tố tụng, ông Bùi Đỗ H đã có đơn gửi Tòa án có nội dung yêu cầu bà Nguyễn Thị Minh N phải trả lãi trên số tiền mà ông Bùi Đỗ H yêu cầu bà Nguyễn Thị Minh N còn thiếu của ông, ông Bùi Đỗ H đã tạm nộp án phí theo quy định. Tuy nhiên trước ngày Tòa án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, ông Bùi Đỗ H đã có đơn gửi Tòa án có nội dung rút lại yêu cầu trên. Hội đồng xét xử xét thấy ông Bùi Đỗ H rút lại yêu cầu bị đơn trả lãi thực hiện trước ngày Tòa án ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử nên Hội đồng xét thấy số tiền mà ông Bùi Đỗ H đã tạm nộp án phí về yêu cầu bị đơn trả lãi sẽ được trả lại cho ông Bùi Đỗ H là không trái quy định của pháp luật.
2. Về nội dung tranh chấp:
Tại phiên Tòa ngày hôm nay, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, lời trình bày cũng như yêu cầu của ông Bùi Đỗ H, ông Bùi Đỗ H yêu cầu bà Nguyễn Thị Minh N, ông Nguyễn Văn N1 trả lại cho ông số tiền 682.000.000 ( Sáu trăm tám mươi hai triệu ) đồng mà bà Nguyễn Thị Minh N còn cầm giữ của ông, yêu cầu trả 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Bà Nguyễn Thị Minh N có bà Nguyễn Thị Hồng Y làm đại diện xác nhận là đúng và chấp nhận trả lại theo yêu cầu của ông Bùi Đỗ H; Bà
Nguyễn Thị Hồng Y đại diện bà Nguyễn Thị Minh N yêu cầu bà Nguyễn Ngọc H1 trả lại cho bà Nguyễn Thị Minh N số tiền 812.000.000 đồng mà bà Nguyễn Ngọc H1 đã nhận của bà Nguyễn Thị Minh N, trả 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét:
[ 2.1] Trong quá trình tố tụng tại phiên Tòa, sau khi nghe các đương sự trình bày cũng như yêu cầu mà các đương sự đưa ra, Hội đồng xét xử đã phân tích, giải thích pháp luật. Sau khi được Hội đồng xét xử phân tích và giải thích pháp luật, bà Nguyễn Kiều G đại diện ông Bùi Đỗ H, bà Nguyễn Thị Hồng Y đại diện bà Nguyễn Thị Minh N đã thống nhất: Bà Nguyễn Thị Minh N, ông Nguyễn Văn N1 trả lại cho ông Bùi Đỗ H, bà Vũ Phan Hương G1 số tiền 682.000.000 ( Sáu trăm tám mươi hai triệu) đồng, trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử xét đây là sự tự nguyện của các đương sự, không trái pháp luật, Hội đồng xét xử nghĩ nên ghi nhận.
[2.2] Về yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Minh N, theo nội dung của hợp đồng đề ngày 01 tháng 06 năm 2007 có chữ ký của bà Nguyễn Ngọc H1, trong phần ký nhận giao nhận tiền, bà Nguyễn Ngọc H1 có ký xác nhận là nhận của bà Nguyễn Thị Minh N số tiền 812.000.000 đồng. Nay bà Nguyễn Thị Minh N yêu cầu bà Nguyễn Ngọc H1 trả lại số tiền trên, yêu cầu của bà Nguyễn Thị Minh N là có cơ sở, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận.
[2.3] Về thời gian trả: Số tiền mà bà Nguyễn Ngọc H1 nhận của bà Nguyễn Thị Minh N từ năm 2007, thời gian đã quá lâu, gây thiệt hại cho bà Nguyễn Thị Minh N, nay bà Nguyễn Thị Minh N yêu cầu bà Nguyễn Ngọc H1 trả lại số tiền 812.000.000 đồng ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là hoàn toàn có cơ sở, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận.
Về đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tại phiên tòa hôm nay về nội dung vụ án, đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức là có cơ sở.
Về án phí:
- - Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- - Bị đơn bà Nguyễn Thị Minh N sinh năm 1959, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn N1 sinh năm 1935 ( Ông N1 là chồng của bà N ) thuộc trường hợp người cao tuổi quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTV-QH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bà Nguyễn Thị Minh N và ông Nguyễn Văn N1 được miễn tiền tạm ứng án phí và án phí.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Ngọc H1 phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 180, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015;
- - Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 30 Luật Thi hành án dân sự;
- - Căn cứ Luật phí và lệ phí;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Ghi nhận sự thỏa thuận của ông Bùi Đỗ H có bà Nguyễn Kiều G làm đại diện, bà Nguyễn Thị Minh N có bà Nguyễn Thị Hồng Y làm đại diện cùng thống nhất: Bà Nguyễn Thị Minh N, ông Nguyễn Văn N1 trả lại cho ông Bùi Đỗ H, bà Vũ Phan Hương G1 số tiền 682.000.000 ( Sáu trăm tám mươi hai triệu ) đồng. Trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật
Xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Minh N về việc yêu cầu bà Nguyễn Ngọc H1 trả lại số tiền đã nhận.
Buộc bà Nguyễn Ngọc H1 trả cho bà Nguyễn Thị Minh N số tiền 812.000.000 ( Tám trăm mươi hai triệu ) đồng. Trả 01 (một) lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Các bên thi hành tại Cơ quan có thẩm quyền về thi hành án dân sự.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 20%/năm. Nếu không có thỏa thuận thì lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn qui định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các
điều 6,7,và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
[3] Về án phí:
- - Bà Nguyễn Thị Minh N, ông Nguyễn Văn N1 không phải chịu án phí.
- - Bà Nguyễn Ngọc H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 36.360.000 ( Ba mươi sáu triệu ba trăm sáu mươi ngàn) đồng. Bà Nguyễn Ngọc H1 chưa nộp án phí.
- - Ông Bùi Đỗ H được hoàn trả lại số tiền 45.578.200 ( Bốn mươi lăm triệu năm trăm bảy mươi tám ngàn hai trăm ) đồng mà ông Bùi Đỗ H đã tạm nộp án phí theo biên lai thu số 04229 ngày 11 tháng 3 năm 2016 và biên lai số 0000611 ngày 18 tháng 01 năm 2024 do Cơ quan thi hành án dân sự Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh lập
[4] Về quyền kháng cáo
Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được tống đạt hoặc ngày niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân phường.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Lũy |
Bản án số 3116/2024/DS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC về tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán phiếu tái định cư
- Số bản án: 3116/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán phiếu tái định cư
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc mua bán phiếu tái định cư
