|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 3112/2024/ HNGĐ-ST
Ngày: 15/07/2024
V/v: Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Lũy.
- - Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Đăng Vạn
- Ông Phạm Văn Phước
- - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Trọng Luân - Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 07 năm 2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2024/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2024 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 197/2024/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 05 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên Tòa số 892/2024/QĐST-TA ngày 25 tháng 06 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị Mỹ D, sinh năm 1977
Thường trú: Căn hộ số 8.08 khối B,lô CD chung 17,3 ha, phường A, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Bị đơn: Ông Trần Đăng T, sinh năm 1975
Thường trú: Căn hộ số 8.08 khối B,lô CD chung 17,3 ha, phường A, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh
Bà D xin vắng mặt, ông T vắng không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại phiên Tòa ngày hôm nay bà Huỳnh Thị Mỹ D tuy vắng mặt nhưng theo nội dung đơn khởi kiện, tại bản tự khai, tại biên bản về việc không tiến hành hòa giải được thì nội dung và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:
Bà và ông Trần Đăng T tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn số 81, cấp ngày 17 tháng 10 năm 2005 tại Ủy ban nhân dân xã H, Buôn M, tỉnh Đaklak. Thời gian ban đầu hai vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng thời gian hạnh phúc không bao lâu thì mất dần nguyên nhân là do bà và ông Trần Đăng T không hiểu nhau thường xuyên cãi nhau, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và thiếu sự tôn trọng lẫn nhau, cuộc sống vợ chồng lạnh nhạt dần. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, bà yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông Trần Đăng T. Về con chung, bà và ông Trần Đăng T có 02 con chung tên Trần Đăng K Nguyên sinh ngày 26 tháng 01 năm 2007 và Trần Đăng Minh K sinh ngày 28 tháng 09 năm 2008, bà yêu cầu được nuôi con và không yêu cầu ông Trần Đăng T cấp dưỡng. Tài sản chung và nợ chung tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết
Bị đơn – ông Trần Đăng Thanh vắng M suốt trong quá trình tố tụng nên Tòa án không có thu thập được lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Từ khi Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức thụ lý vụ án đến nay, trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về yêu cầu của bà Huỳnh Thị Mỹ D là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng:
- Về nội dung:
[1] Quan hệ tranh chấp giữa bà Huỳnh Thị Mỹ D và ông Trần Đăng T là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, do đó căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp quận, huyện. Bị đơn cư trú tại Thành phố T, do đó căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Ông Trần Đăng T là bị đơn trong vụ án, trong quá trình tố tụng, Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho ông Trần Đăng T tất cả các văn bản tố tụng theo quy định, nhưng ông Trần Đăng T đều không đến Tòa, không có đơn trình báo. Thái độ bất hợp tác của ông Trần Đăng T đã thể hiện sự không tôn trọng pháp luật, không tôn trọng Toà án, hành vi trên cũng đồng nghĩa với việc tự từ bỏ nghĩa vụ cũng như quyền lợi của mình mà pháp luật đã quy định; Nguyên đơn có đơn xin được vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ, lời trình bày của các đương sự thì bà Huỳnh Thị Mỹ D yêu cầu được ly hôn ông Trần Đăng T. Bà Huỳnh Thị Mỹ D yêu cầu được nuôi 02 (hai) con chung, không yêu cầu ông Trần Đăng T cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu Tòa án xem xét, yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét:
[1] Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, lời trình bày cũng như yêu cầu của bà Huỳnh Thị Mỹ D, yêu cầu được ly hôn với ông Trần Đăng T, yêu cầu của bà Huỳnh Thị Mỹ D, Hội đồng xét xử xét: Bà Huỳnh Thị Mỹ D và ông Trần Đăng T tự nguyện chung sống và được Ủy ban nhân dân xã H, Buôn M, tỉnh Đaklak cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 81, quyền số 01/2005 ngày 17 tháng 10 năm 2005 nên hôn nhân giữa bà Huỳnh Thị Mỹ D và ông Trần Đăng T là hôn nhân hợp pháp đúng theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[2] Trong quá trình chung sống, bà Huỳnh Thị Mỹ D cho rằng thời gian đầu của hôn nhân bà và ông Trần Đăng T sống với nhau rất hạnh phúc, cả hai luôn quan tâm chăm sóc đến nhau và khi có con chung cả hai đều tập trung lo cho con chung. Tuy nhiên, hạnh phúc giữa bà và ông Trần Đăng T kéo dài không lâu thì mất dần hạnh phúc nguyên nhân cơ bản là giữa bà và ông Trần Đăng T không cùng chung quan điểm sống, không cảm thông hay chia sẻ những vướng mắc trong cuộc sống, không cùng quan điểm trong việc nuôi dạy con cái. Bà thấy hiện tại bà và ông Trần Đăng T không còn tình cảm vợ chồng, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau. Hiện tại bà và ông Trần Đăng T đã sống ly thân từ nhiều năm nay. Từ lời trình bày của bà Huỳnh Thị Mỹ D và qua hành vi không đến Tòa của ông Trần Đăng T đã cho thấy thực chất mâu thuẩn gia đình giữa bà Huỳnh Thị Mỹ D, ông Trần Đăng T là có thật và tồn tại trong khoảng thời gian dài, các bên đã không tích cực tìm cách giải quyết mâu thuẩn, trở về đoàn tụ, cùng chung lo hạnh phúc gia đình và tương lai của con, ngược lại cả hai đều bỏ mặc. Cách hành xử của bà Huỳnh Thị Mỹ D và ông Trần Đăng T đã thể hiện cả hai đã không còn thật sự yêu thương nhau, không còn tôn trọng nhau. Do đó việc duy trì đời sống hôn nhân giữa bà Huỳnh Thị Mỹ D và ông Trần Đăng T sẽ không mang lại điều gì tốt
đẹp mà chỉ gây tổn hại thêm cho cả hai phía. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà Huỳnh Thị Mỹ D là có căn cứ, đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận.
[3] Trong quá trình tố tụng, ông Trần Đăng T đã biết việc bà Huỳnh Thị Mỹ D đã có đơn yêu cầu được ly hôn với ông, nhưng ông đã không đến Tòa, không có văn bản nêu ý kiến của mình. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về con chung: Theo lời khai của bà Huỳnh Thị Mỹ D, thì bà và ông Trần Đăng T có 02 con chung tên Trần Đăng K Nguyên sinh ngày 26 tháng 01 năm 2007 và Trần Đăng Minh K sinh ngày 28 tháng 09 năm 2008. Ly hôn, bà Huỳnh Thị Mỹ D có yêu cầu nuôi con, yêu cầu của bà Huỳnh Thị Mỹ D là có cơ sở, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con, bà Huỳnh Thị Mỹ D tự nguyện không yêu cầu ông Trần Đăng T cấp dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự tự nguyện của bà Huỳnh Thị Mỹ D nên ghi nhận.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Huỳnh Thị Mỹ D không yêu cầu Tòa án xem xét nên Hội đồng xét xử không xét.
[6] Về án phí: Bà Huỳnh Thị Mỹ D có yêu cầu ly hôn nên bà Huỳnh Thị Mỹ D phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 198; Điều 220, Điều 227; Điều 271; Điều 273, Điều 278; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Điều 9; Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 85 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
- - Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 30 Luật Thi hành án dân sự;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị Mỹ D. Bà Huỳnh Thị Mỹ D được ly hôn với ông Trần Đăng T.
- Về con chung: Giao bà Huỳnh Thị Mỹ D nuôi con chung tên Trần Đăng K Nguyên sinh ngày 26 tháng 01 năm 2007 và Trần Đăng Minh K sinh ngày 28 tháng 09 năm 2008. Ghi nhận việc bà Huỳnh Thị Mỹ D không yêu cầu ông Trần Đăng T cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Huỳnh Thị Mỹ D không yêu cầu Tòa án xem xét.
- Về án phí: Án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000₫ ( Ba trăm ngàn đồng), bà Huỳnh Thị Mỹ D phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) mà bà Huỳnh Thị Mỹ D đã nộp theo biên lai thu số 0000289 ngày 02 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh lập . Bà Huỳnh Thị Mỹ D đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Giấy chứng nhận kết hôn số 81, quyển số 01/2005 do Ủy ban nhân dân xã H, Buôn M, tỉnh Đaklak cấp ngày 17 tháng 10 năm 2005 không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Quan hệ hôn nhân giữa bà Huỳnh Thị Mỹ D và ông Trần Đăng T chấm dứt kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật;
Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc niêm yết bản sao bản án tại chính quyền địa phương.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Lũy |
Bản án số 3112/2024/HNGĐ-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 3112/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
