Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 3110/2024/KDTM-ST

Ngày: 15-7-2024

V/v Tranh chấp về Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Hải Quỳnh Anh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Cao Quốc Hưng;
  2. Bà Võ Thị Gái.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Bích Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lam – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 347/2023/TLST-KDTM ngày 18 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp về Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 3219/2024/QĐXXST-KDTM ngày 20 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 4269/2024/QÐST-KDTM ngày 18 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TNHH MTV P
  2. Địa chỉ: Tầng A, tầng B, tầng 10 và tầng 11, Tòa nhà Hà Nội T, Số B đường N, phường L, quận H, Hà Nội.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Huỳnh Hải Đ – Địa chỉ: L.SH.01 (tầng trệt và tầng 1), T, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)

  3. Bị đơn: Công ty TNHH C
  4. Địa chỉ: Số E đường số A, khu phố B, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn H – Địa chỉ: Số B ấp X, Xuân Thới Đ1, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nguyễn Văn H (vắng mặt)
    2. Bà Nguyễn Thị Thu H1 (vắng mặt)

Cùng Địa chỉ: Số B ấp X, Xuân Thới Đ1, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn, Ngân hàng TNHH MTV P trình bày: Theo thỏa thuận cấp tín dụng số VCP/000022/21 ngày 09/4/2021 ký kết giữa Ngân hàng TNHH MTV P (từ đây viết là “Ngân hàng”) và Công ty TNHH C (từ đây viết là “Công ty C”), Ngân hàng có cấp cho Công ty C với hình thức vay vốn kinh doanh với tổng hạn mức là 20.000.000.000đồng, mục đích vay là dùng để thanh toán tiền mua hàng hóa nguyên vật liệu trong nước/nhập khẩu, bổ sung vốn lưu động kinh doanh cùng lương và các chi phí hoạt động, tài sản thế chấp là bất động sản loại quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tọa lạc tại số E đường số A khu phố B, phường T, Quận B (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh theo Hợp đồng thế chấp số VCP/000022/21 ngày 09/4/2021. Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay vốn, Công ty C đã không thanh toán nợ gốc và lãi vay cho Ngân hàng kể từ kỳ thanh toán tháng 01/2023. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc Công ty C có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng số tiền 20.693.925.742đồng trong đó nợ gốc 19.999.000.000đồng, lãi trong hạn 589.754.302đồng, lãi quá hạn là 105.171.440đồng và tiền lãi tiếp tục tính cho đến khi Công ty C hoàn thành nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng; trong trường hợp Công ty C không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm; trường hợp đã phát mãi tài sản bảo đảm nhưng vẫn không đủ để trả nợ cho Ngân hàng, Ngân hàng yêu cầu ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Thu H1 tiếp tục nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ của Công ty TNHH C theo Thư bảo lãnh của bà Nguyễn Thị Thu H1 đề ngày 09/4/2021 và ông Nguyễn Văn H ngày 09/4/2021.

Quá trình giải quyết vụ án, vào ngày 16/01/2024,

- Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, tính đến ngày 16/01/2024, số tiền nợ gốc mà bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn là 19.979.000.000đồng, tiền lãi trong hạn là 1.855.855.385đồng, lãi quá hạn là 788.095.583đồng, tổng cộng là 22.622.950.968đồng.

Bị đơn Công ty TNHH C do ông Nguyễn Văn H là người đại diện theo pháp luật xác nhận quá trình giao kết tín dụng, thế chấp, bảo lãnh như nội dung của nguyên đơn trình bày tại Đơn khởi kiện, tại các văn bản mà nguyên đơn đã giao nộp cho Tòa án là đúng. Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán tính đến ngày 16/01/2024 với số tiền nợ gốc mà bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn là 19.979.000.000đồng, tiền lãi trong hạn là 1.855.855.385đồng, lãi quá hạn là 788.095.583đồng, tổng cộng là 22.622.950.968đồng và các yêu cầu khởi kiện khác thì bị đơn đồng ý trả. Nhưng do tình hình kinh tế khó khăn, bị đơn đề nghị được thanh toán lần 1 vào ngày 02/5/2024 là 3.000.000.000đồng, lần 2 vào ngày 31/7/2024 là 16.979.000.000đồng và tiền lãi trong hạn tính đến ngày 16/01/2024 là

1.855.855.385đồng và lãi quá hạn tính đến ngày 16/01/2024 là 788.095.583đồng và tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn tính từ ngày 17/01/2024 đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ; nhưng đề nghị Tòa án tiến hành thủ tục hòa giải thành vào ngày khác.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn H trình bày trường hợp Công ty TNHH C không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì đồng ý để Ngân hàng yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản đảm bảo là thửa đất số 517 tờ bản đồ số 16 thuộc phường T, thành phố T (cũ là Quận B), Thành phố Hồ Chí Minh và nhà ở số E đường số A, khu phố B, phường T, thành phố T (cũ là Quận B), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BB874740, số vào sổ cấp GCN CH01082 do UBND Quận 2 Thành phố H cấp ngày 04/10/2010 (cập nhật chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Thu H1 ngày 01/4/2019) và Hợp đồng thế chấp ngày 09/4/2021. Trong trường hợp đã phát mãi tài sản bảo đảm nhưng vẫn không trả đủ các khoản nợ cho Ngân hàng, thì ông Nguyễn Văn H đồng ý cùng bà Nguyễn Thị Thu H1 thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ của Công ty TNHH C theo Thư bảo lãnh của bà Nguyễn Thị Thu H1 đề ngày 09/4/2021 và ông Nguyễn Văn H ngày 09/4/2021.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Thu H1 trình bày bà H1 thống nhất ý kiến của ông H.

Sau phiên làm việc ngày 16/01/2024, ông H và bà H1 không đến Tòa án dù đã được triệu tập.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn trình bày giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, tính hết ngày 14/7/2024, Công ty TNHH C còn nợ Ngân hàng số tiền 23.969.948.053 đồng, trong đó số tiền nợ gốc là 19.979.000.000đồng, tiền lãi trong hạn là 2.692.097.201, tiền phạt quá hạn chính là tiền lãi quá hạn là 1.298.850.852đồng; về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ Ngân hàng đề nghị Tòa án buộc bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật; xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền, tư cách đương sự, thu thập chứng cứ, tống đạt và thông báo văn bản tố tụng đúng quy định pháp luật; về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí, chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về phạm vi khởi kiện: Vụ án chỉ có yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TNHH MTV P, bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập. Căn cứ Điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[1.2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng TNHH MTV P – là tổ chức tín dụng - khởi kiện Công ty TNHH C do vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng; tại thời điểm nộp đơn khởi kiện, Công ty TNHH C có trụ sở tại thành phố T Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đây là vụ án “Tranh chấp về Hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Toà án triệu tập đến Tòa án nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông H, bà H1.

[2] Về yêu cầu của đương sự:

[2.1] Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH C thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ gốc do vi phạm nghĩa vụ thanh toán tại “Thỏa thuận cấp tín dụng” số VCP/000022/21 ngày 09/4/2021 và các Phụ lục thỏa thuận cấp tín dụng ngày 31/10/2021, ngày 30/4/2022, ngày 31/10/2022 là 19.979.000.000đồng. Quá trình giải quyết vụ án, ông H và bà H1 xác nhận có giao kết tín dụng như trình bày của Ngân hàng và đồng ý yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ tài liệu chứng cứ do Ngân hàng giao nộp, xác nhận của ông H và bà H1, Điều 91, Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Điều 466 của Bộ luật Dân sự 2015 về Nghĩa vụ trả nợ của bên vay, chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của Ngân hàng.

[2.2] Tại Điều 2 của “Thỏa thuận cấp tín dụng” số VCP/000022/21 ngày 09/4/2021, Ngân hàng và Công ty C thỏa thuận về Lãi suất và phương thức tính lãi. Đối chiếu thỏa thuận nêu trên của các bên với B tự khai và cách tính lãi đến hết ngày 14/7/2024 do Ngân hàng giao nộp, trình bày của đại diện nguyên đơn tại phiên tòa và Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, Điều 91 của Luật Các Tổ chức tín dụng, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng về việc buộc bị đơn phải trả cho Ngân hàng các khoản tiền lãi đến hết ngày 14/7/2024 của “Thỏa thuận cấp tín dụng” số VCP/000022/21 ngày 09/4/2021 và các Phụ lục thỏa thuận cấp tín dụng gồm tiền lãi trong hạn là 2.692.097.201đồng, tiền lãi quá hạn là 1.298.850.852đồng.

Từ [2.1] và [2.2], tổng số tiền Công ty TNHH C phải trả cho Ngân hàng tính đến hết ngày 14/7/2024 của “Thỏa thuận cấp tín dụng” số VCP/000022/21 ngày 09/4/2021 và các Phụ lục thỏa thuận cấp tín dụng ngày 31/10/2021, ngày 30/4/2022, ngày 31/10/2022 là 23.969.948.053đồng. Công ty TNHH C có nghĩa vụ tiếp tục trả tiền lãi phát sinh tính từ ngày 15/7/2024 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại của “Thỏa thuận cấp tín dụng” số VCP/000022/21 ngày 09/4/2021 nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

[2.3] Tại Hợp đồng thế chấp số VCP/000022/21-BĐS-CC ngày 09/4/2021, bà Nguyễn Thị Thu H1 và Ngân hàng thỏa thuận thửa đất số 517 tờ bản đồ số 16 phường

T Quận B (nay là thành phố T) có diện tích 315,4m² và nhà ở địa chỉ 55/7/ đường số A khu phố B, phường T Quận B (nay là thành phố T) theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB874740 là tài sản đảm bảo cho khoản vay tại thỏa thuận tín dụng số VCP/000021/21 ngày 09/4/2021. Nay Ngân hàng yêu cầu trường hợp Công ty C không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản đảm bảo là phù hợp Điều 299 của Bộ luật Dân sự 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Trường hợp Công ty C hoàn thành nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ, Ngân hàng có trách nhiệm giao trả lại bà H1 các tài liệu liên quan đến tài sản bảo đảm mà Ngân hàng đang lưu giữ.

[2.4] Ngân hàng yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Thu H1 có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng thay cho Công ty C kể từ ngày Bản án/Quyết định của TAND có hiệu lực pháp luật mà việc phát mãi tài sản bảo đảm nêu tại mục [2.3] không đủ để thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ nêu trên và lãi suất phát sinh

Tại “Thư bảo lãnh khoản vay” ngày 09/4/2024 của ông H và bà H1, ông H và bà H1 cam kết “Trong trường hợp Bên Vay không trả được toàn bộ hoặc một phần khoản nợ được bảo lãnh ở trên khi đến hạn, tôi đồng ý và cam kết với Bên Cho Vay, ...rằng tôi sẽ thanh toán ngay, không cần chờ đến yêu cầu hay thông báo của Bên Cho Vay, các khoản tiền gốc, tiến lãi, tiền phạt và tất cả các khoản phí mà Bên Cho Vay có thể phải chi trong quá trình thu bất kỳ hoặc toàn bộ số nợ”. Đối chiếu cam kết của ông H, bà H1 với Điều 370 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về Chuyển giao nghĩa vụ, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện này của Ngân hàng

[3] Về chi phí tố tụng: Ngân hàng đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật, do đó Công ty TNHH C phải trả lại cho Ngân hàng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 7.000.000đồng theo quy định tại Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015

[4] Về án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm: theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (Ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, Công ty TNHH C phải chịu án phí kinh doanh thương mại là 131.969.948đồng, Ngân hàng không phải nộp án phí nên được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức được Hội đồng xét xử chấp nhận như nhận định trên

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

  • Điều 5, khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 92, Điều 157 và Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Điều 370, Điều 466 của Bộ luật Dân sự 2015;
  • Điều 4, Điều 91 của Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010;
  • Luật Thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014, năm 2022;
  • Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án;
  • Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TNHH MTV P:
  2. Buộc Công ty TNHH C thực hiện nghĩa vụ thanh toán của “Thỏa thuận cấp tín dụng” số VCP/000022/21 ngày 09/4/2021 và các Phụ lục thỏa thuận cấp tín dụng ngày 31/10/2021, ngày 30/4/2022, ngày 31/10/2022 cho Ngân hàng TNHH MTV P số tiền nợ gốc là 19.979.000.000đ (Mười chín tỷ, chín trăm bảy mươi chín triệu đồng), tiền lãi trong hạn tính hết ngày 14/7/2024 là 2.692.097.201 (Hai tỷ, sáu trăm chín mươi hai triệu, không trăm chín mươi bảy ngàn, hai trăm lẻ một đồng), tiền lãi quá hạn tính hết ngày 14/7/2024 là 1.298.850.852đồng (Một tỷ, hai trăm chín mươi tám triệu, tám trăm năm mươi ngàn, tám trăm năm mươi hai đồng); tổng cộng tính hết ngày 14/7/2024 là 23.969.948.053đ (Hai mươi ba tỷ, chín trăm sáu mươi chín triệu, chín trăm bốn mươi tám ngàn, không trăm năm mươi ba đồng).

    Công ty TNHH C phải thanh toán cho Ngân hàng TNHH MTV P tiền lãi phát sinh tính từ ngày 15/7/2024 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại “Thỏa thuận cấp tín dụng” số VCP/000022/21 ngày 09/4/2021 và các Phụ lục thỏa thuận cấp tín dụng ngày 31/10/2021, ngày 30/4/2022, ngày 31/10/2022 nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

    Trường hợp Công ty TNHH C không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TNHH MTV P có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản đảm bảo là thửa đất số 517 tờ bản đồ số 16 thuộc phường T, thành phố T (cũ là Quận B), Thành phố Hồ Chí Minh và nhà ở số E đường số A, khu phố B, phường T, thành phố T (cũ là Quận B), Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BB874740, số vào sổ cấp GCN CH01082 do UBND Quận 2 Thành phố H cấp ngày 04/10/2010 (cập nhật chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Thu H1 ngày 01/4/2019) và Hợp đồng thế chấp số VCP/000022/21-BĐS-CC ngày 09/4/2021.

    Trường hợp tài sản bảo đảm là thửa đất số 517 tờ bản đồ số 16 phường T Quận B (nay là thành phố T) có diện tích 315,4m² và nhà ở địa chỉ 55/7/ đường số A khu phố B, phường T Quận B (nay là thành phố T) theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BB874740 phát mãi không đủ để thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TNHH MTV P thì ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Thu H1 có nghĩa vụ thanh toán khoản nợ còn lại của Công ty TNHH C theo thỏa thuận tại “Thư bảo lãnh khoản vay” ngày 09/4/2024 của ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị Thu H1.

    Ngay sau khi nghĩa vụ trả nợ của Công ty TNHH C theo “Thỏa thuận cấp tín dụng” số VCP/000022/21 ngày 09/4/2021 và các Phụ lục thỏa thuận cấp tín dụng ngày 31/10/2021, ngày 30/4/2022, ngày 31/10/2022 hoàn thành, Ngân hàng P có trách nhiệm giao trả cho bà Nguyễn Thị Thu H1 toàn bộ tài liệu liên quan đến tài sản bảo đảm mà Ngân hàng đang giữ.

    Thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Việc thanh toán do Công ty TNHH CNgân hàng TNHH MTV P, bà Nguyễn Thị Thu H1, ông Nguyễn Văn H tự thực hiện hoặc thực hiện tại cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

  3. Về chi phí tố tụng: Công ty TNHH C phải trả lại cho Ngân hàng TNHH MTV P chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 7.000.000đ (Bảy triệu đồng). Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  4. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Công ty TNHH C phải nộp án phí là 131.969.948đ (Một trăm ba mươi mốt triệu, chín trăm sáu mươi chín ngàn, chín trăm bốn mươi tám đồng). Trả lại cho Ngân hàng TNHH MTV P số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 64.346.963đ (Sáu mươi bốn triệu, ba trăm bốn mươi sáu ngàn, chín trăm sáu mươi ba đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0016342 ngày 16/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
  5. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Ngân hàng TNHH MTV P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án; Công ty TNHH C, ông Nguyễn Ngọc H2, bà Nguyễn Thị Thu H1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ Bản án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.
  6. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi

hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án nhân dân TPHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TPHCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.Thủ Đức;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP.Thủ Đức;
  • - Lưu: hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lưu Hải Quỳnh Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 3110/2024/KDTM-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 3110/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger