|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc — |
Bản án số: 311/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 31/7/2024
V/v: Tranh chấp ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Huyền Thu
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Thuỷ Tiên
2. Bà Trần Thu Hà
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hằng Nga - Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân – thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân – thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền – Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân – thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 583/2023/TLST – HNGĐ ngày 21/11/2023 về việc”Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐST – HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 80/QĐST – HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024.
- Nguyên đơn: Chị Hà Thị Yên K, sinh năm 1981
HKTT: TDP B, phường L, thành phố V, tỉnh V .
Trú tại: Số 3, L, T, huyện V, tỉnh V .
(Xin vắng mặt tại phiên toà)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Tuấn M, sinh năm 1973
HKTT và nơi cư trú cuối cùng tại: Số 19, ngõ 102, tổ 36, T, phường K, quận T H.
(Vắng mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn – chị Hà Thị Yên K trình bày:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 06/11/2023, được bổ sung bản tự khai đề ngày 21/11/2023, chị Hà Thị Yên K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị K và anh Nguyễn Tuấn M kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố V, tỉnh V ngày 14/01/2005. Cả hai cùng kết hôn lần đầu. Sau khi kết hôn vợ chồng cùng chung sống tại số 2 ngõ 3 đường N, L, V, V (là nhà bố mẹ đẻ chị K ). Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2012, thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp, vợ chồng thường xuyên cãi vã làm cho cuộc sống căng thẳng mệt mỏi. Cả hai đã cố gằng hòa giải nhưng không thành vợ chồng không thể chung sống và cũng từ thời gian này vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi. Anh M bỏ đi lên Hà Nội sống tại địa chỉ Số 19, ngõ 102, tổ 36, T, phường K, quận T H (là nhà anh trai của anh M ). Vợ chồng không liên lạc, không quan tâm đến nhau, hơn nữa anh M cũng không quan tâm đến các con. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, vợ chồng không thể tiếp tục đoàn tụ. Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh M .
Về con chung: Chị và anh M có 03 (ba) con chung là cháu Nguyễn Ngọc K sinh ngày 01/11/2005; cháu Nguyễn Minh Đ sinh ngày 18/09/2007; cháu Nguyễn Dương B sinh ngày 02/03/2012, cả ba con chung dều có sức khỏe bình thường và đang sống cùng chị K. Ly hôn, chị muốn nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Đ và cháu B. Cháu K đã đủ tuổi trưởng thành nên không yêu cầu tòa án giải quyết. Việc cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu anh M cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nhà ở chung, công nợ chung: Chị xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn – anh Nguyễn Tuấn M : Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh M không đến Tòa; Tòa án tiến hành tống đạt cho anh M, Thông báo lời khai của nguyên đơn, yêu cầu nộp bản tự khai, triệu tập đương sự đến Tòa để giải quyết vụ án nhưng anh M không đến Tòa và cũng không có ý kiến gì.
Toà án đã tiến hành làm việc với anh Nguyễn Ngọc K sinh ngày 01/11/2005 là con trai của chị K và anh M nhưng anh K không cung cấp được địa chỉ của bố anh do bố anh gọi điện chỉ hỏi thăm chứ không nói cho mẹ con anh biết thể hiện anh M cố tình dấu địa chỉ. Bên cạnh đó, chị K cũng có ý kiến khi anh M điện thoại hỏi thăm con thì chị có đề cập đến việc ly hôn nhưng anh M nói thích làm gì thì làm và anh cũng không đoàn tụ.
Tại biên bản làm việc ngày 20/3/2024, đại diện chính quyền địa phương cho biết: Quá trình chung sống tại địa phương, anh M sống tại Số 19, ngõ 102, tổ 36, T, phường K, quận T H là nhà của gia đình anh trai và chỉ có một mình anh M chứ không thấy vợ con. Nhiều năm nay, anh M cũng không sống tại địa chỉ này nữa, anh M chuyển đi đâu không báo cho chính quyền địa phương nên không biết. Nay chị K là vợ của anh M có đơn xin ly hôn thì đề nghị Toà án giải quyết theo pháp luật.
Tại công văn số 265 ngày 15/5/2024, quan điểm của đại diện Phòng LĐTBXH: Đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho trẻ em.
Tại phiên tòa,
Do chị K xin vắng mặt, anh M vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử đã công bố ý kiến, lời khai của chị K và các tài liệu chứng cứ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tiến hành tố tụng tại phiên tòa phát biểu: Quá trình Tòa án từ khi thụ lý vụ án cho đến phiên tòa và tại phiên tòa Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị K chấp hành tốt quy định của tố tụng dân sự, chấp hành triệu tập của Tòa án và điều hành của Chủ tọa phiên tòa. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hà Thị Yên K đối với anh Nguyễn Tuấn M ; Về con chung: Giao cho chị K trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu B, cháu Đ. Tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con đối với anh M ; Về tài sản chung, nhà ở, công nợ chung: Chị K xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1.Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân gia đình về việc ly hôn, nuôi con theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền: Bị đơn có nơi cư trú cuối cùng tại Số 19, ngõ 102, tổ 36, T, phường K, quận T H nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân theo khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về việc vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Quá trình giải quyết, anh M không đến Tòa. Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo lời khai của nguyên đơn, yêu cầu nộp bản tự khai, triệu tập đương sự đến Tòa, Thông báo về phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả về phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải để giải quyết vụ án đối với anh M nhưng anh M cũng không có ý kiến gì. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của pháp luật đối với anh Nguyễn Tuấn M nhưng anh vẫn vắng mặt dù đã được triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai. Chị Hà Thị Yên K có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở xét xử vắng mặt chị K, anh M theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
2. Về quan hệ hôn nhân: chị Hà Thị Yên K và anh Nguyễn Tuấn M kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố V, tỉnh V ngày 14/01/2005. Cả hai cùng kết hôn lần đầu, đây là hôn nhân hợp pháp.
3. Xét yêu cầu ly hôn của chị Khánh: Vợ chồng đã ly thân không quan tâm đến nhau, không thực hiện các nghĩa vụ của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 là nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc của gia đình, vợ chồng có nghĩa vụ chung sống với nhau. Ngoài ra, Tòa án đã tiến hành thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo lời khai của chị K đối với anh M và các văn bản tố tụng khác, chị K cũng đề cập đến việc ly hôn nhưng anh M không có ý kiến gì. Thể hiện anh M không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cần căn cứ vào khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 để xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị K đối với anh M .
4. Về con chung: Chị Hà Thị Yên K và anh Nguyễn Tuấn M có 03 (Ba) con chung là cháu Nguyễn Ngọc K sinh ngày 01/11/2005; cháu Nguyễn Minh Đ sinh ngày 18/09/2007; cháu Nguyễn Dương B sinh ngày 02/03/2012; cháu K đã đủ tuổi trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Từ khi vợ chồng không sống cùng nhau, chị K đều là người chăm sóc nuôi dưỡng các con, các con phát triển bình thường về thể chất và tinh thần. Cháu Đ, cháu B trên 07 tuổi có nguyện vọng ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn. Anh M không thường xuyên quan tâm chăm sóc các con nên không đảm bảo việc nuôi dưỡng con chung.
Xét nguyện vọng xin được nuôi con của chị K là phù hợp với điều kiện nuôi con của chị K, nguyện vọng của cháu Đ, cháu B, quan điểm của Phòng LĐTBXH; phù hợp với Điều 58, khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014. Hội đồng xét xử thấy rằng cần chấp nhận yêu cầu của chị K được trực tiếp nuôi cháu Đ, cháu B ; Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh M cho đến khi con chung đủ tuổi trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi về nuôi con.
5. Về tài sản chung, nhà ở chung, công nợ chung: Chị K xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa không xét.
6. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Chị K phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp.
7. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ: Điều 19, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
- - Căn cứ: khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016; Danh mục mức án phí, lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hà Thị Yên K đối với anh Nguyễn Tuấn M, chị K được ly hôn anh M .
Về con chung: Chị Hà Thị Yên K và anh Nguyễn Tuấn M có 03 (Ba) con chung là cháu Nguyễn Ngọc K sinh ngày 01/11/2005, cháu Nguyễn Minh Đ sinh ngày 18/09/2007, cháu Nguyễn Dương B sinh ngày 02/03/2012, cháu K đã đủ tuổi trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Giao cháu Đ, cháu B cho chị K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Tạm hoãn tiền cấp dưỡng nuôi con đối với anh M kể từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Đ, cháu B đủ tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc khi có sự thay đổi khác về nuôi con. Anh M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về tài sản chung và nhà ở chung, công nợ chung: Chị K xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa không xét.
Về án phí: Chị Hà Thị Yên K phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền chị đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số AA/2023/0012657 ngày 21/11/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Thanh Xuân.
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt chị K anh M. Chị K anh M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. Hội đồng xét xử Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Lê Huyền Thu |
Bản án số 311/2024/HNGĐ - ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 311/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: K - M /Tranh chấp xin ly hôn
