Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGÔ QUYỀN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 311/2024/HS-ST

Ngày 12-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Khang

Bà Lý Thị Thiên Nga

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Thủy – Thẩm tra viên Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Tô Thị Hoài Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 303/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 780/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Thị C, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1973 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số C T, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Kế toán; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn K (đã chết) và bà Trần Thị P; bị cáo có chồng là Nguyễn Huy L và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 15/3/2024; có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Chi cục thuế khu vực N; địa chỉ trụ sở: Số B P, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N xác minh theo Công văn của Chi cục thuế khu vực N - H về việc Công ty TNHH Đ, mã số thuế: 020045373, trụ sở: Số E L, V, Ngô Q, Hải Phòng, có dấu hiệu rủi ro về thuế và hóa đơn. Cụ thể: Công ty TNHH Đ có sử dụng hóa đơn giá trị gia tăng (viết tắt là GTGT) hàng hóa, dịch vụ mua vào để kê khai khấu trừ thuế GTGT và hạch toán vào chi phí, hầu hết các đơn vị cung cấp hóa đơn GTGT đầu vào cho Công ty TNHH Đ đều đã không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký với cơ quan Thuế hoặc tạm ngừng kinh doanh, Chi cục Thuế khu vực N - H không thể xác minh được nguồn gốc hàng hóa.

Quá trình xác minh, phát hiện Phạm Thị C là kế toán của Công ty TNHH Đ, có hoạt động mua trái phép hóa đơn giá trị gia tăng khống của một số công ty trên địa bàn thành phố Hải Phòng để hạch toán thuế GTGT đầu vào cho Công ty Đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đã thu giữ của Phạm Thị C: 08 tờ hóa đơn GTGT liên 2, các số: 0001180; 0001156; 0001046; 0001091; 0001045; 0001054; 0001101; 0001192 do Công ty TNHH T6 phát hành; 01 tờ hóa đơn GTGT liên 2, số 0000855 do Công ty TNHH T7 phát hành. Kèm theo các hóa đơn là các ủy nhiệm chi, chứng từ thanh toán.

Kết luận giám định của Cục thuế thành phố H ngày 29/12/2023 kết luận: Công ty Đ sử dụng không hợp pháp hóa đơn để kê khai hàng hóa dịch vụ mua vào là hành vi trốn thuế theo quy định tại điều 143 Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019. Số tiền thuế GTGT gây thất thu cho ngân sách Nhà nước do Công ty Đ sử dụng 09 số hóa đơn GTGT lập khống để hạch toán thuế GTGT đầu vào là 319.893.500 đồng.

Kết luận giám định số 1689/KL-KTHS ngày 10/7/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H giám định chữ ký trên tài liệu là 01 tờ hoá đơn GTGT liên 2 số 0000855 do Công ty T7 phát hành và 37 tờ séc rút tiền tại Ngân hàng TMCP Q2 – Chi nhánh H6 với chữ viết, chữ ký của Nguyễn Đức M kết luận: Trên các mẫu cần giám định (Séc): Chữ ký mang tên Giám đốc Nguyễn Đức M tại mục “Người phát hành” so với chữ ký mang tên Nguyễn Đức M tại mục “Người nhận tiền” là do cùng một người ký ra. Chữ ký mang tên Giám đốc Nguyễn Đức M tại mục “Người phát hành” và chữ ký mang tên Nguyễn Đức M tại mục “ Người nhận tiền” trên các mẫu cần giám định (S) so với chữ ký mang tên Giám đốc Nguyễn Đức M tại mục “Thủ trưởng đơn vị” trên mẫu cần giám định (Hoá đơn) là không đủ cơ sở kết luận. Chữ viết có nội dung “Nguyễn Đức M” tại mục “Người nhận tiền” trên các mẫu cần giám định (S) so với chữ viết của người mang tên Nguyễn Đức M trên các mẫu so sánh (Biên bản ghi lời khai; Biên bản về việc lấy mẫu chữ ký) là không đủ cơ sở kết luận.

Quá trình điều tra Phạm Thị C khai nhận:

Công ty TNHH Đ có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 0200450373 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố H cấp đăng ký lần đầu ngày 28/01/2002; Trụ sở: số E L, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng, kê khai nộp thuế tại Chi cục thuế khu vực N - H. Người đại diện theo pháp luật của Công ty là Phạm Văn H - chức danh: Giám đốc, sinh ngày 25/9/1975, trú tại: thôn P, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng. Chín là kế toán trưởng, đồng thời là thành viên góp vốn của Công ty Đ. Trong khoảng thời gian từ tháng 6/2019 đến tháng 8/2019, C có mua hàng hóa, vật tư là thiết bị, phụ tùng (đề ma zơ, phớt bơm đa tầng, bơm thủy lực, máy phát điện, bu lông, ốc vít, mỡ công nghiệp, máy tiện, ...) không có hóa đơn, sau đó qua mối quan hệ xã hội, Chín đã liên hệ với một người phụ nữ tên H1 (hiện chưa xác định được lai lịch, địa chỉ) mua 08 tờ hóa đơn GTGT nhưng không có hàng hóa kèm theo do Công ty TNHH T6 (Công ty T6), MST: 0201823839, trụ sở: số A L, L, L, Hải Phòng phát hành các số 0001180; 0001156; 0001046; 0001091; 0001045; 0001054; 0001101; 0001192 có tổng số tiền hàng ghi trên hóa đơn là 3.143.221.000 đồng và 01 tờ hóa đơn GTGT khống do Công ty TNHH T7, MST: 0201818645, trụ sở: số H M, N, Hải Phòng phát hành số 0000855 có số tiền hàng ghi trên hóa đơn là 55.714.000 đồng. Tổng số tiền hàng ghi trên 09 hóa đơn là 3.198.935.000 đồng. Chín trực tiếp liên hệ với H1 để thỏa thuận việc mua hóa đơn GTGT theo yêu cầu của C với giá 2% đến 3% giá trị hàng hóa ghi trên hóa đơn, mục đích để kê khai hàng hóa dịch vụ mua vào tại kỳ kê khai thuế quý 2, quý 3 năm 2019 cho Công ty TNHH Đ. Chín thanh toán trực tiếp tiền mua hóa đơn cho người giao hóa đơn cho C tại Công ty Đ. Để hợp thức hóa việc mua hóa đơn do Công ty T7 và Công ty T6 phát hành, C đã dùng ủy nhiệm chi để chuyển tổng số tiền thanh toán trên 09 tờ hóa đơn từ tài khoản số [...] tại Ngân hàng TMCP Á, số [...] tại ngân hàng TMCP C1 của Công ty Đ vào tài khoản số 2511103279005 tại Ngân hàng TMCP Q2 của Công ty T7 và vào tài khoản số 02001019006751 tại Ngân hàng TMCP H7 của Công ty T6. Sau đó H1 cho người mang số tiền mà Công ty Đ đã chuyển khoản để hợp thức hóa việc mua hóa đơn cho C tại trụ sở Công ty Đ.

Việc C đã sử dụng 09 tờ hóa đơn GTGT khống nêu trên để kê khai thuế đầu vào cho Công ty TNHH Đ, làm giảm số thuế phải nộp cho nhà nước là 319.893.500 đồng.

Trong tổng số 65 công ty mua hóa đơn GTGT của Công ty T6 và Công ty T7, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đã xác minh được 16 công ty gồm: Công ty CP T8; Công ty TNHH MTV C2; Công ty Cổ phần C3; Công ty TNHH T9; Công ty TNHH C4; Công ty CP B; Công ty TNHH MTV V; Công ty TNHH X; Công ty TNHH MTV D2; Công ty TNHH T10; Công ty CP P1; Xí nghiệp V1; Công ty CP C5; Công ty TNHH MTV C2; Công ty TNHH K2; Công ty CP T11, quá trình điều tra xác minh thể hiện các công ty mua hàng hóa thật để phục vụ cho kinh doanh và được xuất hóa đơn GTGT và các chứng từ kèm theo. Đối với các công ty sử dụng hóa đơn còn lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đã chuyển thông tin, tài liệu đến Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra thuộc các quận, huyện nơi các công ty đặt trụ sở để xác minh xử lý theo thẩm quyền.

Ngoài 02 công ty là Công ty T6 và Công ty T7, còn 12 đơn vị cung cấp hóa đơn GTGT đầu vào cho Công ty Đ gồm: Công ty Cổ phần V2; Công ty TNHH T12; Công ty TNHH Đ1; Công ty TNHH T13; Công ty TNHH V3; Công ty TNHH V4; Công ty TNHH X1; Công ty TNHH T14; Công ty TNHH T15; Công ty TNHH P2; Công ty TNHH A; Công ty TNHH T14. Tuy nhiên, C khai nhận có phát sinh giao dịch mua bán hàng hóa với các công ty trên và sử dụng hoá đơn GTGT do các công ty trên phát hành để kê khai thuế GTGT hàng hoá, dịch vụ đầu vào của Công ty Đ.

Tại bản cáo trạng số 305/CT-VKSNQ ngày 12/112024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền đã truy tố Phạm Thị C về tội “Trốn thuế” theo b khoản 2 Điều 200 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thị C khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt và đề nghị được hưởng phạt tiền là hình phạt chính.

- Kiểm sát viên tại phiên tòa: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 200, Điều 35; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị C mức phạt tiền từ 530.000.000 đồng đến 550.000.000 đồng về tội “Trốn thuế” để nộp Ngân sách Nhà nước.

Do bị cáo bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Phạm Thị C kể từ ngày tuyên án.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo làm giảm số thuế phải nộp cho nhà nước gây thất thu cho ngân sách Nhà nước là 319.893.500 đồng. Bị cáo tự nguyện giao nộp số tiền 319.893.500 đồng theo Biên lai thu tiền số 0008855 ngày 14-11-2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Ngô QuyềN nên cần tạm giữ giao cho Chi cục thuế khu vực N – H xử lý theo quy định pháp luật.

Về án phí: Đề nghị áp dụng điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Thị C phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Phạm Thị C khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định: Từ tháng 06/2019 đến tháng 8/2019, với tư cách là kế toán của Công ty TNHH Đ, Phạm Thị C có hành vi mua trái phép tổng số 09 tờ hoá đơn GTGT bất hợp pháp với tổng giá trị hàng hóa ghi trên hóa đơn là 3.198.935.000 đồng, trong đó có 08 tờ hóa đơn do Công ty TNHH T6 phát hành; 01 tờ hóa đơn do Công ty TNHH T7 phát hành và đã sử dụng 09 tờ hóa đơn này để hạch toán hàng hóa đầu vào cho Công ty TNHH Đ, làm giảm số thuế phải nộp cho nhà nước là 319.893.500 đồng. Như vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Trốn thuế được quy định tại Điều 200 Bộ luật Hình sự.

[3] Về tình tiết tăng nặng định khung: Bị cáo thực hiện hành vi trốn thuế với số tiền là 319.893.500 đồng nên hành vi của bị cáo đã vi phạm điểm b khoản 2 Điều 200 Bộ luật Hình sự

[4] Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.

[5] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý thuế, gây thất thu Ngân sách Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình phát triển kinh tế, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội. Vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết để giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.

[6] Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[8] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện khắc phục hậu quả, nộp lại toàn bộ số tiền đã trốn thuế nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[9] Về hình phạt chính: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo chưa tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ; tại phiên tòa, bị cáo đề nghị xem xét cho được hưởng hình phạt chính là phạt tiền và cam kết có đủ điều kiện để thi hành hình phạt phạt tiền đồng thời bị cáo C đã tự nguyện nộp số tiền 530.000.000 đồng để chứng minh khả năng thi hành án phạt tiền nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt phạt tiền theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo, đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.

[10] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo C bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 32, khoản 3 Điều 200 Bộ luật Hình sự.

- Về xử lý vật chứng:

[11] Đối với 08 tờ hóa đơn GTGT liên 2, các số: 0001180; 0001156; 0001046; 0001091; 0001045; 0001054; 0001101; 0001192 do Công ty TNHH T6 phát hành; 01 tờ hóa đơn GTGT liên 2, số 0000855 do Công ty TNHH T7 phát hành và các ủy nhiệm chi, chứng từ thanh toán chuyển kèm theo hồ sơ vụ án

[12] Bị cáo làm giảm số thuế phải nộp cho nhà nước gây thất thu cho ngân sách Nhà nước là 319.893.500 đồng. Bị cáo tự nguyện giao nộp số tiền 319.893.500 đồng theo Biên lai thu tiền số 0008855 ngày 14-11-2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Ngô QuyềN nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tạm giữ giao cho Chi cục thuế khu vực N - H xử lý theo quy định pháp luật.

[13] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[14] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Các vấn đề khác:

[15] Đối với Phạm Văn H là Giám đốc của Công ty TNHH Đ nhưng H không biết Phạm Thị C mua trái phép hóa đơn GTGT để hạch toán hàng hóa đầu vào nhằm mục đích trốn thuế nên chưa đủ căn cứ xử lý.

[16] Đối với Nguyễn Thị H2 (sinh năm 1975; Trú tại: Số D D, Sở D, Hồ N, Hải Phòng) đứng tên giám đốc của Công ty V2 từ ngày 16/7/2020 xác nhận giữa Công ty V2 và Công ty Đ không phát sinh bất kì giao dịch kinh tế nào. Trước đó, giám đốc là ông Nguyễn Văn L1 (sinh năm 1949; Trú tạ; Số H L, N, Hải Phòng) - bố đẻ của chị H2, ông L1 đã chết từ năm 2018, mọi hoạt động, giao dịch của Công ty V2 tại thời điểm ông L1 làm giám đốc chị H2 không nắm được; Đào Văn T (sinh năm 1978; Trú tại: Thôn C, T, T, Hải Phòng) đứng tên giám đốc Công ty T6 có được 01 người bạn xã hội không nhớ lai lịch địa chỉ nhờ đứng tên làm giám đốc Công ty T6, T đã đưa hộ khẩu, chứng minh nhân dân cho người đó để làm thủ tục, T không điều hành bất ký hoạt động kinh doanh nào của Công ty T6 và không hưởng lợi bất kỳ lợi ích vật chất nào; Nguyễn Phương T1 (sinh năm 1994; Trú tại: A, A, A, Hải Phòng) đứng tên giám đốc Công ty T6 từ ngày 23/4/2019; Nguyễn Trung H3 (sinh năm 1984; Trú tại: H K, Sở Dầu, Hồ N, Hải Phòng) đứng tên giám đốc Công ty Đ1; Nguyễn Văn L2 (sinh năm 1987; Trú tại: Thôn C, T, T, Thái Bình) đứng tên giám đốc Công ty T13 không biết và không liên quan đến các công ty này và không biết lý do tại sao lại đứng tên giám đốc của những công ty này nên không xem xét xử lý. Nguyễn Thị T2 (sinh năm: 1972; Trú tại: Khu E, N, H, Hải Phòng) đứng tên giám đốc Công ty T12, Lê Đức D (sinh năm 1968; Trú tại: TDP số E, N, H, Hải Phòng) đứng tên giám đốc Công ty V3, Phạm Thị T3 (sinh năm 1979; Trú tại: Thôn B, L, T, Hải Phòng) đứng tên giám đốc Công ty V4, Đinh Văn H4 (sinh năm 1960; Trú tại: số A L, G, N, Hải Phòng) đứng tên giám đốc Công ty X1, Vũ Bá D1 (sinh năm 1953; Trú tại: Số H T, phường T, L, Hải Phòng) đứng tên giám đốc Công ty S1, Vũ Quốc T4 (sinh năm 1962; Trú tại: Số D cụm H, Đ, N, Hải Phòng) đứng tên giám đốc Công ty T15; Đào Xuân T5 (sinh năm 1961; Trú tại: Số D Đà Nẵng, L, N, Hải Phòng) đứng tên giám đốc Công ty P2, Nguyễn Thị H5 (sinh năm 1954; Trú tại: Số H T, phường T, L, Hải Phòng) đứng tên giám đốc Công ty A; Vũ Mạnh Q1 (sinh năm 1980; Trú tại: 1 P, M, N, Hải Phòng) đứng tên giám đốc Công ty T14, quá trình điều tra, hiện các đối tượng không có mặt tại nơi cư trú; đối tượng tên H1 là người môi giới bán trái phép hóa đơn cho Phạm Thị C hiện chưa xác định rõ lai lịch, địa chỉ nên chưa có căn cứ xử lý.

[17] Đối với Nguyễn Đức M (sinh năm 1987; Trú tại: Khu dân cư C, T, H, Hải Phòng) đứng tên giám đốc Công ty T7, M khai không biết, không liên quan đến các công ty này và không biết lí do tại sao lại có thông tin cá nhân của M trên giấy phép đăng ký kinh doanh của Công ty T7. M chưa bao giờ đến ngân hàng nào để mở tài khoản giao dịch của công ty. Minh xác nhận các chữ ký trên tờ hóa đơn, chứng từ tài liệu liên quan đến Công ty T7 mà M được Cơ quan điều tra cho xem đều không phải chữ ký của M. Tuy nhiên, Kết luận giám định số 1689 ngày 10/7/2024 của Phòng K1, Công an thành phố H xác định Chữ ký mang tên Giám đốc Nguyễn Đức M tại mục “Người phát hành” trên 37 tờ séc rút tiền tại Ngân hàng TMCP Q2 – Chi nhánh H6 do Công ty T7 phát hành so với chữ ký mang tên Nguyễn Đức M tại mục “Người nhận tiền” là do cùng một người ký ra, Cơ quan điều tra tiến hành triệu tập M để làm việc nhưng M không có mặt tại địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N đã ra Quyết định tách hành vi, tài liệu liên quan số 2874 ngày 10/10/2024 đối với Nguyễn Đức M và các công ty: Công ty T14, Công ty T15, Công ty P2, Công ty A, Công ty T14, Công ty T12, Công ty Đ1, Công ty T13, Công ty V3, Công ty V4 để tiếp tục xác minh làm rõ, có căn cứ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 200; Điều 35; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phạm Thị C phạm tội “Trốn thuế”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Thị C 530.000.000 (năm trăm ba mươi triệu) đồng. Bị cáo Phạm Thị C đã nộp đủ 530.000.000 (năm trăm ba mươi triệu) đồng theo Biên lai thu tiền số 0008883 ngày 10 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Ngô QuyềN để bảo đảm thi hành án.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Phạm Thị C kể từ ngày tuyên án.

- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tạm giữ số tiền 319.893.500 đồng bị cáo tự nguyện giao nộp theo Biên lai thu tiền số 0008855 ngày 14-11-2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Ngô QuyềN giao cho Chi cục thuế khu vực N – H xử lý theo quy định pháp luật.

- Về án phí: Căn cứ các điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phạm Thị C phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Phạm Thị C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo đúng quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND quận Ngô Quyền;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - Cơ quan CSĐT Công an quận Ngô Quyền;
  • - Cơ quan THAHS Công an quận Ngô Quyền;
  • - Chi cục THADS quận Ngô Quyền;
  • - Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
  • - Công an quận Ngô Quyền;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 311/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về trốn thuế (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 311/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trốn thuế (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HÌnh sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger