Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 311/2024/HS-ST

Ngày 12-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình H1.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn C

Bà Trần Ngọc P.

Thư ký phiên toà: Bà Lê Hà G - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Chiến - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 338/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 376/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Hà Văn T, sinh năm: 1973 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi thường trú: Thôn G, xã Đ, huyện B, tỉnh Thanh Hóa; nơi tạm trú: Ô, Lô D, đường D, Khu dân cư V, khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Hà Thu T1 (đã chết) và bà Hà Thị S; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam ngày 23/7/2024 đến nay, có mặt.

- Bị hại: Bà Lương Thị H, sinh năm: 1974; nơi thường trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; nơi tạm trú: Ô, Lô D, đường D, Khu dân cư V, khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.

- Người làm chứng: Ông Dương Thanh T2, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hà Văn T và bị hại Lương Thị H sống chung như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn. Bị cáo T và bà H thuê trọ tại địa chỉ Ô, Lô D, đường D, Khu dân cư V, khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. T nghi ngờ bà H có mối quan hệ tình cảm với người khác nên nảy sinh ghen tuông, thường xuyên xảy ra cự cãi.

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 15/02/2024, T và bà H, con trai riêng bà H tên Dương Thanh T2 và con dâu Vi Thị X ăn tối tại nhà trọ địa chỉ Ô, Lô D, đường D, Khu dân cư V, khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, T2 và X đi chơi, T thấy bà H sử dụng điện thoại nên nghi ngờ bà H nhắn tin với bạn trai nên nói “Bà vừa phải thôi, con cái lớn cả rồi, đừng làm trò cười cho người khác”, bà H trả lời “Không có ai cả”, X và bà H cự cãi qua lại, bà H lấy ghế nhựa ngồi trước thềm nhà để sử dụng điện thoại di động. Lúc này, bị cáo T xông đến từ phía sau xô vào ghế làm bà H té xuống nền thềm nhà, T dùng chân đá một cái trúng vào bụng của bà H gây thương tích rồi bỏ vào bên trong tiếp tục chửi bới. Bà H tiếp tục ngồi ghế thì T chạy ra phía sau nhà lấy 01 con dao chặt thịt bằng kim loại, dài khoảng 30cm chạy đến đe dọa, thấy vậy bà H bỏ chạy qua phòng trọ gần đó trốn rồi bà H gọi điện thoại báo cho con ruột T2 về đưa đến nhà người thân tại thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương để ở nhờ.

Đến khoảng 09 giờ 00 phút ngày 16/02/2024, bà H thấy đau bụng, nhờ người chở đến Trung tâm y tế huyện P, tỉnh Bình Dương để cấp cứu. Do vết thương nặng nên được chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B điều trị và đã được chuyển đến Bệnh viện C, Thành phố Hồ Chí Minh để điều trị.

Ngày 20/02/2024, bà Lương Thị H làm đơn yêu cầu giám định thương tích và yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với Hà Văn T về hành vi cố ý gây thương tích.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 198/2024/KLGÐ-TTPY ngày 05/04/2024 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh B kết luận bị hại Lương Thị H bị thương tích như sau: Chấn thương bụng kín, dập gan độ III hạ phân thùy IV, dập rách tụ máu vùng đầu tụy độ III, đã điều trị nội khoa. Di chứng nang giả tụy vùng đầu tụy kích thước 75x120x73mm. Tổn thương phế nang phổi 2 bên, đã lành.

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lương Thị H tại thời điểm giám định là: 30% (Ba mươi phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Cơ chế hình thành thương tích: Chấn thương bụng kín, không có thương tích ngoài da, khả năng do vật tày gây ra.

Cáo trạng số 305/CT-VKS-TA ngày 14/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã truy tố bị cáo Hà Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa trình bày quan điểm: Vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng, xác định bị cáo Hà Văn T phạm tội Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo và áp dụng Khoản 1 Điều 134; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Hà Văn T mức hình phạt từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù.

* Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị tuyên buộc bị cáo Hà Văn T phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tổn thất tinh thần cho và Lương Thị H theo quy định của pháp luật.

* Về xử lý vật chứng: 01 (một) con dao bằng kim loại, dài khoảng 30cm do Hà Văn T sử dụng để đe dọa bị hại bà Lương Thị H, hiện không thu hồi được nên không đề nghị xử lý

- Bị cáo Hà Văn T trình bày ý kiến: Thống nhất với nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt như đại diện viện kiểm sát, đồng ý bồi thường theo yêu cầu của bị hại, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất.

- Bị hại bà Lương Thị H trình bày ý kiến: Thống nhất với nội dung bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh truy tố bị cáo, không đồng ý với mức hình phạt như đại diện viện kiểm sát đề nghị, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 02 năm tù đến 03 năm tù và yêu cầu bị cáo bồi thường chi phí điều trị, tiền tổn thất tinh thần số tiền 30.000.000 đồng, tổng số tiền là 71.820.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Hà Văn T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, bản kết luận giám định pháp y về thương tích và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Do có mâu thuẫn xuất phát từ việc ghen tuông, bị cáo Hà Văn T nghi ngờ bà H có quan hệ với người đàn ông khác nên giữa bị cáo Hà Văn T và bị hại Lương Thị H nhiều lần xích mích, cãi nhau. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 15/02/2024, tại địa chỉ Ô, Lô D, đường D, Khu dân cư V, khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Hà Văn T nghi ngờ bị hại H nhắn tin cho người đàn ông khác nên hai bên xảy ra cãi nhau, bị cáo Hà Văn T đã có hành vi dùng chân đá một cái trúng vùng bụng bà Lương Thị H gây thương tích với tỷ lệ 30% sức lao động tạm thời. Hành vi của bị cáo Hà Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo Hà Văn T về tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội xâm, phạm quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh, trật tự xã hội tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm và vi phạm pháp luật hình sự, sẽ bị xử lý nhưng cố ý thực hiện hành vi, bất chấp hậu quả và pháp luật. Do vậy, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

  • * Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
  • * Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
  • * Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Xét bị cáo Hà Văn T phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tuy nhiên tình hình tội phạm cố ý gây thương tích xảy ra trên địa bàn ngày càng nhiều và gây mất an ninh trật tự tại địa phương nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị xử phạt bị cáo Hà Văn T mức hình phạt từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù là chưa phù hợp tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 30% là mức cao nhất của khung hình phạt và chưa bồi thường số tiền nào cho bị hại nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng hình phạt cao hơn mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại Bị hại Lương Thị H yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền 41.820.000 đồng chi phí điều trị (có hóa đơn, chứng từ kèm theo), tiền tổn thất tinh thần số tiền 30.000.000 đồng, tổng số tiền là 71.820.000 đồng (bảy mươi mốt triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng). Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại, xét đây là sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa các bị cáo với bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) con dao bằng kim loại, dài khoảng 30cm do bị cáo Hà Văn T sử dụng để đe dọa bị hại bà Lương Thị H nhưng không sử dụng dao để gây thương tích cho bị hại, hiện không thu hồi được nên không đề cập xử lý.

[9] Về án phí: Bị cáo Hà Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • + Khoản 1 Điều 134; Điểm i, s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • + Các Điều 288, 584, 585, 586, 587 và 590 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • + Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Hà Văn T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Hà Văn T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 23/7/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo Hà Văn T với bị hại Lương Thị H,

Buộc bị cáo Hà Văn T phải bồi thường cho bị hại Lương Thị H số tiền 71.820.000 đồng (bảy mươi mốt triệu tám trăm hai mươi nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu người phải thi hành án chậm thi hành án thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3 Về án phí: Bị cáo Hà Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.591.000 đồng (ba triệu năm trăm chín mươi mốt nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm;

- Bị cáo; bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đình H1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 311/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 311/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 02 năm tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger