|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: /2024/HS -ST Ngày: 06/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Nhâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Minh Tuấn
Bà Đỗ Thị Liên
-Thư ký phiên toà: Ông Trần Hưng - Thư ký Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Nam Từ Liêm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 279/2024/TLST - HS ngày 28/10/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 293/2024/QĐXXST – HS ngày 28/10/2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Đoàn Quốc C- Sinh năm 2003
Nơi thường trú: Khu 4, thị trấn Thanh Ba, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không
Văn hóa: 12/12
Nghề nghiệp: Lao động tự do
Họ và tên bố: Đoàn Văn T – Sinh năm 1976
Họ và tên mẹ: Phạm Thị Hồng L – Sinh năm 1979
Gia đình có hai anh em, bị can là con thứ nhất.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 25/7/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an Thành phố H. ( có mặt).
-
Họ và tên: Đoàn Đức C1- Sinh năm 2003
Nơi thường trú: Cự Đà, Đặng Xá, Gia Lâm, Hà Nội
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không
Văn hóa: 12/12
Nghề nghiệp: Lao động tự do
Họ và tên bố: Đoàn Đức Q - Sinh năm 1975
Họ và tên mẹ: Dương Thị B – Sinh năm 1976
Gia đình có hai anh em, bị can là con thứ hai
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 13/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an Thành phố H. ( có mặt).
-
Họ và tên: Chu Văn M- Sinh năm 2002
Nơi thường trú: Thôn Liên Hoàn, Hà Giang, Đông Hưng, Thái Bình
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không
Văn hóa: 12/12
Nghề nghiệp: Lao động tự do
Họ và tên bố: Chu Văn X – Sinh năm 1964
Họ và tên mẹ: Hoàng Thị L1 – Sinh năm 1970
Gia đình có ba chị em, bị can là con thứ ba.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 13/6/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H. ( có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 30 ngày 12/6/2024, Công an phường M làm nhiệm vụ tại khu vực ngã tư đường B giao đường L thuộc phường M phát hiện 01 nam thanh niên điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 30K6-1989 đang trao đổi với 01 nam thanh niên đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên tiếp cận để kiểm tra. Thấy tổ công tác bất ngờ nam thanh niên đi bộ bỏ chạy thoát về hướng đường H khi chạy bị rơi lại số tiền 200.000 đồng. Kiểm tra nam thanh niên đi xe máy phát hiện trong lòng bàn tay trái người này có 06 túi nilong bên trong chứa thảo mộc khô, thu trong balo người này có 02 túi nilong bên trong chứa thảo mộc khô. Tại chỗ người này khai tên Chu Văn M (Sinh năm: 2002; HKTT: thôn L, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Bình); thảo mộc khô là ma tuý Tobaco của M mang bán cho nam thanh niên vừa bỏ chạy. Tổ công tác đã lập biên bản tạm giữ, niêm phong tang vật, dẫn giải đối tượng về Công an phường M xác minh làm rõ. (BL98)
Tại cơ quan Công an, Chu Văn M khai số ma tuý Tobaco nhận của Đoàn Đức C1 tại ngõ A đường T, phường M, quận H, Hà Nội. Cơ quan Công an tiến hành đấu tranh dẫn giải M đến địa chỉ trên phát hiện Đoàn Đức C1 (Sinh năm: 2003; HKTT: thôn C, xã Đ, huyện G, TP Hà Nội) là đối tượng giao ma tuý cho M mang bán nên mời về trụ sở để xác minh làm rõ. Tại cơ quan Công an, Đoàn Đức C1 đã khai nhận là người đưa 08 túi ma tuý Tobaco cho Chu Văn M mang bán theo chỉ đạo của Đoàn Quốc C.
Quá trình đấu tranh khai thác mở rộng vụ án xác định đối tượng đưa ma tuý T1 cho M và C1 đi bán là Đoàn Quốc C (Sinh năm: 2003; HKTT: Khu D, Thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ) nên tiến hành triệu tập làm rõ. Ngày 25/7/2024, C đã đến cơ quan công an xin đầu thú khai nhận hành vi thuê Chu Văn M và Đoàn Đức C1 thực hiện hành vi mua bán ma tuý Tobaco vào ngày 12/6/2024. (BL254-256)
*Vật chứng thu giữ:
- - Thu giữ của Chu Văn M: 02 túi nilong kích thước 3x5cm bên trong có thảo mộc khô được tiến hành niêm phong vào 1 phong bì dán kín ký hiệu “M1”;06 túi nilong kích thước 3x5cm bên trong có thảo mộc khô được tiến hành niêm phong vào 1 phong bì dán kín ký hiệu “M2”; 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ - đen, BKS: 30K6-1989; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 13 Promax, gắn sim 0377756984; số tiền 200.000VNĐ. (BL103)
- - Thu giữ của Đoàn Đức C1: 14 túi nilong, kích thước 3x5cm bên trong có thảo mộc khô; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 12 Promax màu xanh, lắp sim 0354039396. (BL105)
* Tại Bản kết luận giám định số 4448 của phòng K - Công an thành phố H, kết luận (đối với tang vật thu giữ của Chu Văn M):
- + Thảo mộc khô bên trong 02 túi nilong đều có ma túy loại ADB-BUTINACA, tổng khối lượng: 3,447gam.
- + Thảo mộc khô bên trong 06 túi nilong đều là ma túy loại ADB-BUTINACA, tổng khối lượng: 13,447gam. (BL111)
* Tại Bản kết luận giám định số 4472 của phòng K - Công an thành phố H, kết luận (đối với tang vật thu giữ của Đoàn Đức C1):
Thảo mộc khô bên trong 14 túi nilong đều có ma túy loại ADB-BUTINACA, tổng khối lượng: 29,870gam.(BL112)
* Quá trình điều tra xác định:
Đoàn Đức C1 và Đoàn Quốc C là bạn học cùng lớp Ô tô 603, khoá 12 trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghệ Bách khoa. C1 và Chu Văn M có quan hệ quen biết xã hội từ khoảng tháng 11/2023, bản thân C1 làm thêm nghề xe ôm công nghệ hãng B1.
Khoảng cuối năm 2023, C bắt đầu sử dụng Tobaco, từ việc sử dụng thấy việc bán T1 có nhiều lợi nhuận nên nảy sinh ý định tìm mua Tobaco về bán kiếm lời. C lập tài khoản Facebook “Phan Chi L2” để tìm mua ma tuý Tobaco trên mạng xã hội, quá trình tìm C thấy tài khoản Facebook “Trần Phương L3” đăng bán Tobaco nên đã liên hệ mua được 500.000 đồng Tobaco. Sau đó C sử dụng tài khoản Facebook “Phan Chi L2” đăng bán Tobaco trên nhóm “T Hà Nội 24/7” kèm theo số điện thoại của mình để người mua liên hệ.
Khoảng tháng 01/2024, Đoàn Quốc C rủ C1 đi ship tinh dầu thuốc lá điện tử (tức T1) C1 đồng ý. Khoảng 2-3 tuần sau C1 tìm hiểu qua mạng và hỏi thì C nói cho C1 biết hàng đi ship không phải tinh dầu thuốc lá điện tử mà một loại thuốc lào có tẩm thêm chất ma tuý để sử dụng cho phê hơn tên gọi T1 (một dạng cỏ Mỹ), nếu bị bắt thì chỉ bị xử phạt hành chính. Do tin tưởng C nên C1 vẫn tiếp tục đi ship ma tuý T1 cho C để hưởng tiền công. Hàng ngày, khi có đơn hàng thì C sẽ nhắn địa chỉ, số lượng, số điện thoại khách mua qua ứng dụng Telegram để C1 mang đi giao bán cho khách; C1 sẽ dựa vào số tiền hiển thị tương ứng quãng đường trên ứng dụng Be để thu tiền ship của khách và được hưởng; C không trả thêm tiền công cho C1. Sau đó C lập nhóm T2 “Success anh luck” có C và C1 để tiện trao đổi thông tin đơn hàng ma túy T1. Mỗi lần C bảo C1 qua nhà C lấy tầm 10-50 gói ma túy đi ship, khi nào ship hết thì đến nhà C lấy tiếp. C nhận tiền ma túy trực tiếp thì khách chuyển khoản, nếu khách thanh toán tiền mặt thì C1 thu tiền mặt về và trả lại cho C. C1 đã nhiều lần nhắn lên nhóm để C đi giao ma túy cho C1.
Khoảng tháng 4/2024, C1 giới thiệu Chu Văn M cho C để cùng đi ship Tobaco cho C; C1 cũng nói với M việc T1 là một loại thuốc lào có tẩm thêm chất ma tuý để sử dụng cho phê hơn, nếu bị bắt thì chỉ bị xử phạt hành chính nên M đồng ý đi bán ma tuý Tobaco cho khách theo chỉ đạo của C để hưởng tiền công ship. Sau đó C thêm M vào nhóm T2 “Success anh luck” để cùng trao đổi đơn hàng mua bán ma tuý Tobaco.
Quá trình từ tháng 4/2024 đến tháng 5/2024, nhiều lần M đã đi ship ma túy cho C, M nhận trực tiếp ma túy từ C1 đưa. Tiền ship thì M hưởng theo mỗi đơn hàng giao, nếu khách thanh toán tiền ma túy bằng tiền mặt thì M thu tiền mặt và về đưa lại cho C1 và C.
Khoảng cuối tháng 5/2024, C tiếp tục liên hệ với tài khoản Facebook “Trần Phương L3” hỏi mua 500 gam ma tuý T1, người này báo giá 3.000.000 đồng, yêu cầu chuyển tiền trước nên C ra dịch vụ chuyển tiền nhanh 24/7 để chuyển tiền mua ma tuý (không nhớ số tài khoản của người bán và địa điểm đã chuyển tiền). Sau đó C nhắn địa chỉ nhận T1 tại đầu ngõ A T, T, T, TP Hà Nội và số điện thoại 0389.249.xxx của mình cho “Trần Phương L3”. Sau đó C nhận được điện thoại gọi lấy hàng, C gặp và nhận từ shiper Be 01 hộp các-tông dán kín băng dính bên ngoài tại đầu ngõ B T, T, T, TP Hà Nội trả tiền ship 50.000 đồng (không nhớ số điện thoại của ship). Sau khi lấy được T1, C mang về phòng trọ số 303, số B ngõ A T, T, Hà Nội, mở ra thấy bên trong là 01 túi nilong chứa thảo mộc màu nâu là ma tuý Tobaco nên dùng cân điện tử một mình cân chia được 22 túi nilong (dạng túi Zip) để bán với giá 200.000 đồng/túi.
Đêm ngày 10/6/2024 vì có lịch đi chơi cùng nhóm bạn tại Thị trấn S, Lào Cai nên C gọi C1 sang phòng trọ của C (phòng 303, số B ngõ A T, T, T, Hà Nội) đưa cho C1 gồm 22 túi Tobaco để bán khi có khách hỏi mua C sẽ nhắn lên nhóm T2. C1 mang số ma tuý Tobaco trên cất giấu tại phòng trọ ở số nhà A đường T, phường M, quận H, Hà Nội. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày C bảo M qua phòng trọ của C1 lấy ma tuý Tobaco, sau đó M qua chỗ trọ của C1 lấy 08 túi Tobaco mang về cất giấu để bán cho khách.
Chiều ngày 12/06/2024, C nhận được tin nhắn của khách trên Facebook “Phan Chi L2” (không nhớ tài khoản người mua) hỏi mua 05 túi Tobaco. C đồng ý nói sẽ tặng thêm 01 túi, tổng 06 túi Tobaco và báo giá 500.000 đồng (100.000 đồng/túi), chưa tính phí ship. Khách mua đồng ý và hẹn giao ma tuý tobaco tại cổng trường Đại học H2, phường M, quận N, TP Hà Nội. C yêu cầu chuyển tiền trước vào số tài khoản của C; sau khi nhận được 300.000 đồng C nhắn tin trong nhóm T2 “Success anh luck” nội dung “Đại học hoà bình đường lưu hữu phước, cổng phụ 0393017762, P6 thu 200 tiền mặt+ship” (tức là giao 06 gói Tobaco cho khách tại địa chỉ cổng phụ trường Đại học H2, thu tiền mặt của khách 200.000 đồng và phí ship). M đọc tin nhắn của C và xác nhận sẽ giao đơn hàng trên nên lấy 08 túi ma tuý T1 (06 túi cầm trên tay trái và 02 túi cất vào trong balo) để mang bán cho khách. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày khi M điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 30K6-1989 đến cổng trường Đại học H2 gọi đến số điện thoại 0393.017.xxx thì gặp khách mua là một nam thanh niên đi bộ đến. Khi M đang giao dịch mua bán Tobaco với người này thì bị tổ công tác Công an phường M kiểm tra phát hiện bắt quả tang.
Về nguồn gốc số ma tuý: Đoàn Quốc C khai mua của người trên mạng xã hội có tài khoản facebook “Trần Phương L3”, không biết nhân thân lai lịch, chưa gặp người này, chuyển tiền mua ma túy qua dịch vụ chuyển tiền nhanh B2 (không nhớ địa chỉ chuyển tiền và số tài khoản chuyển tiền). Do đó, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.
Đối với đối tượng sử dụng số điện thoại 0393.017.xxx hỏi mua ma túy Tobaco của C. Quá trình điều tra xác định chủ thuê bao số điện thoại trên là ông Lê Văn P (Sinh năm: 1965; HKTT: Nghĩa Phong, C, C, Quảng Trị). Qua điều tra xác minh ông P xác định không đăng ký và sử dụng số điện thoại trên, không quen biết với bị Đoàn Quốc C. Tiến hành cho Chu Văn M nhận dạng người mua ma tuý (hình ảnh ông Lê Văn P) kết quả bị can M không nhận ra người đã giao dịch mua ma tuý của mình. (BL146-147, 268).
Đối với số tài khoản: 0900128619999 ngân hàng M2 chuyển số tiền 300.000 đồng cho Đoàn Quốc C vào ngày 12/6/2024 để mua ma túy. Quá trình điều tra xác minh chủ tài khoản ngân hàng trên là chị Vũ Thị H (Sinh năm: 1986; địa chỉ: P, M, N, TP Hà Nội). Ghi lời khai chị H xác định có sử dụng số tài khoản ngân hàng M2 0900128619999 làm dịch vụ chuyển tiền 24/7. Do hàng ngày có nhiều khách hàng đến làm dịch vụ chuyển tiền nên chị H không nhớ ngày 12/6/2024 ai là người đến nhờ chuyển số tiền 300.000 đồng (BL277). Do cả C và M không biết thông tin, lai lịch của đối tượng mua ma túy nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
*Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave BKS: 30K6-1989, số khung: RLHJC431XAY662, không xác định được 3 ký tự cuối; số máy: JC43E1439805.
Tra cứu dữ liệu xe tang vật xác định chiếc xe trên không nằm trong hệ thống dữ liệu xe vật chứng. Giám định tại V - Bộ C3 xác định chiếc xe trên có số khung: RLHJC431XAY662, không xác định được 3 ký tự cuối; số động cơ nguyên thuỷ: JC43E1439805. Qua xác minh chủ sở hữu biển kiểm soát của xe: 30K6-1989 là của anh Dương Anh M1 (Sinh năm: 1971; HKTT: số A Đội C, phương L, quận H, Hà Nội). Ghi lời khai anh M1 xác định khoảng năm 2009 anh M1 mua chiếc xe Honda Lead BKS: 30K6-1989, màu vàng và đăng ký tên mình để sử dụng cho nhu cầu cá nhân. Từ đó đến nay anh M1 vẫn sử dụng chiếc xe trên để đi lại, không làm mất biển số và không mua bán sang nhượng với ai. (BL 165, 167, 169, 275)
Chu Văn M khai mượn chiếc xe máy trên của em họ Chu Bích H1 (Sinh năm: 1992; HKTT: Liên Hoàn, Hà Giang, Đ, Thái Bình). Ghi lời khai anh H1 xác định khoảng giữa năm 2019 anh H1 mua chiếc xe máy trên tại cửa hàng cầm đồ ở TP T, tỉnh Thái Bình với giá 05 triệu đồng, không có đăng ký xe và giấy tờ mua bán, không nhớ thông tin địa chỉ bán và người đã bán chiếc xe máy trên. Khoảng tháng 4/2024 anh H1 cho anh họ là Chu Văn M mượn chiếc xe trên để đi làm shipper, không biết M sử dụng chiếc xe trên để đi bán ma tuý Tobaco. (BL270)
Ngày 15/8/2024, Cơ quan CSĐT – C4 ra thông báo tìm chủ sở hữu đối với chiếc xe máy trên phương tiện thông tin đại chúng; nhưng cho đến nay không có thông tin về chủ sở hữu đến trình báo. (BL170-171)
Tại Cơ quan điều tra, lời khai nhận tội của Đoàn Quốc C, Đoàn Đức C1 và Chu Văn M phù hợp với nhau và các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Cáo trạng số 244A/CT - VKSNTL ngày 24/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Đoàn Quốc C, Đoàn Quốc C2, Chu Văn M về tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Đối với Đoàn Quốc C
- + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38, đề nghị xử phạt từ 7 năm 6 tháng tù đến 8 năm tù.
Đối với Đoàn Đức C1
- + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38, đề nghị xử phạt từ 7 năm 3 tháng tù đến 7 năm 9 tháng tù.
Đối với Chu Văn M
- + Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38, đề nghị xử phạt từ 7 năm đến 7 năm 6 tháng tù.
* Hình phạt bổ sung: Các bị can không có thu nhập ổn định nên đề nghị không áp dụng khoản 5 Điều 251 BLHS để tuyên hình phạt tiền đối với các bị can.
Về dân sự: Không.
Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS đề nghị:
- - Tịch thu tiêu hủy 03 phong bì niêm phong ma túy
- - Tịch thu xung công quỹ 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu đỏ - đen, BKS: 30K6-1989; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 13 Promax, gắn sim 0377756984; số tiền 200.000VNĐ thu của M; Truy thu của C 300.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu iphone 12 Promax màu xanh, lắp sim 0354039396.
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an quận N, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi của mình, thành khẩn khai báo nhận tội như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, Biên bản phạm tội quả tang, tang vật thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác Cơ quan điều tra đã thu thập. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Đoàn Đức C1 và Đoàn Quốc C là bạn học cùng lớp Ô tô 603, khoá 12 trường Cao đẳng Kỹ thuật Công nghệ Bách khoa. C1 và Chu Văn M có quan hệ quen biết xã hội từ khoảng tháng 11/2023.
Quá trình từ tháng 12/2023 đến tháng 5/2024, Đoàn Quốc C đã bàn bạc với Đoàn Đức C1, Chu Văn M lập nhóm chat telegram để trao đổi bán ma túy tobaco. M và C1 đều thừa nhận đã nhiều lần đi giao ma túy cho C để hưởng tiền công.C thừa nhận đã lập nhóm chat telegram thuê M và C1 nhiều lần đi ship ma tuy. Đến cuối tháng 5/2024, Đoàn Quốc C mua 46,764 gam ma túy ADB-BUTINACA của facebook “Trần Phương L3” (không xác định được nhân thân) mang về cất giấu ở chỗ thuê trọ phòng 301, số B ngõ A T, T, T, Hà Nội để bán kiếm lời.
Ngày 10/6/2024, Đoàn Quốc C chỉ huy Đoàn Đức C1 mang 46,764gam ma túy ADB-BUTINACA về cất giấu tại phòng trọ của C1 tại số nhà A đường T, phường M, quận H, Hà Nội, để bán khi có khách hỏi mua. Khoảng 21 giờ cùng ngày, C chỉ huy Chu Văn M đến chỗ C1 để lấy 16,894 gam ma túy ADB-BUTINACA sau đó cất giấu trên người, mục đích để bán khi có khách hỏi mua.
Khoảng 15 giờ 30 ngày 12/6/2024, tại khu vực ngã tư đường B giao đường L thuộc phường M, N, Hà Nội, Chu Văn M mang theo 16,894 gam ma túy ADB-BUTINACA để bán cho khách 13,447gam ma túy ADB-BUTINACA theo thông tin khách hàng do C cung cấp, thì bị Tổ công tác công an phường M phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của Đoàn Quốc C, Đoàn Đức C1, Chu Văn M đã phạm vào tội “ Mua bán trái phép chất ma túy” Tội danh và khung hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo biết tác hại của ma túy vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của các bị cáo gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong nhân dân. Vì vậy, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tuy nhiên xem xét các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên coi đây là tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo M và bị cáo C đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo C1 có ông nội và ông ngoại là người có công với cách mạng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét bị cáo không có việc làm ổn định nên miễn cho bị cáo hình phạt bổ sung bằng tiền.
[3] Vật chứng vụ án:
Tịch thu tiêu hủy ma túy:
- -01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn có chữ ký niêm phong của Chu Văn M, cán bộ công an phường M và giám định viên (ký hiệu M1).
- 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn có chữ ký niêm phong của Chu Văn M, cán bộ công an phường M và giám định viên (ký hiệu M2).
- 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn có chữ ký niêm phong của Chu Văn M, cán bộ công an phường M và giám định viên (ký hiệu M1).
- 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn có chữ ký niêm phong của Đoàn Đức C1 cán bộ công an phường M và giám định viên.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước:
- 01 điện thoại di động kiểu dáng I- phone 12 Promax, gắn 01 sim ( điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- 01 điện thoại di động kiểu dáng I- phone 13 Promax, gắn 01 sim ( điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- 01 xe máy kiểu dáng Honda Wave, BKS: 30K6- 1989, số khung RLHJC431XAY ( không xác định được 3 ký tự cuối); số máy: JC43E1439805.
Truy thu sung công quỹ nhà nước của Đoàn Quốc C 300.000 đồng và tịch thu sung công quỹ nhà nước 200.000 đồng thu của M.
[4] Về án phí: Các bị cáo Đoàn Quốc C, Đoàn Đức C1, Chu Văn M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[5] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Đoàn Quốc C, Đoàn Đức C1, Chu Văn M có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
-
Tuyên bố bị cáo Đoàn Quốc C, Đoàn Đức C1, Chu Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo: Đoàn Quốc C 07( bảy) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/7/2024.
Xử phạt Đoàn Đức C1 07 ( bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/6/2024.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt Chu Văn M 07 ( bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/6/2024.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự 2015:
Tịch thu tiêu hủy ma túy:
- 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn có chữ ký niêm phong của Chu Văn M, cán bộ công an phường M và giám định viên (ký hiệu M1).
- 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn có chữ ký niêm phong của Chu Văn M, cán bộ công an phường M và giám định viên (ký hiệu M2).
- 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn có chữ ký niêm phong của Chu Văn M, cán bộ công an phường M và giám định viên (ký hiệu M1).
- 01 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn có chữ ký niêm phong của Đoàn Đức C1 cán bộ công an phường M và giám định viên.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước:
- 01 điện thoại di động kiểu dáng I- phone 12 Promax, gắn 01 sim ( điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- 01 điện thoại di động kiểu dáng I- phone 13 Promax, gắn 01 sim ( điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong.
- 01 xe máy kiểu dáng Honda Wave, BKS: 30K6- 1989, số khung RLHJC431XAY ( không xác định được 3 ký tự cuối); số máy: JC43E1439805.
(Tình trạng các vật chứng trên như Biên bản giao nhận vật chứng số: 02 ngày 02/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận N và Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm).
Truy thu sung công quỹ nhà nước của Đoàn Quốc C 300.000 đồng
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 200.000 đồng thu của M (Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 02/10/2024).
- Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc các bị cáo Đoàn Quốc C, Đoàn Đức C1, Chu Văn M mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Án xử công khai sơ thẩm các bị cáo Đoàn Quốc C, Đoàn Đức C1, Chu Văn M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Thị Nhâm |
Bản án số /2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: /2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Đoàn Quốc C, Đoàn Đức C1, Chu Văn M phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
