|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 311/2024/HS-ST
Ngày: 31/10/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Quỳnh
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Kim Thu
2. Ông Trần Hữu Hạnh
Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hà Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái
Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân A - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm, thụ lý số 287/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 298/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Cao Mạnh T (Cao Công T1) - Sinh ngày 20 tháng 12 năm 1973 tại tỉnh Phú Thọ. Nơi ĐKHKTT: Khu H, thị trấn H, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Cao Công T2 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị S; Có vợ: Trương Thị Bích P (đã ly hôn) và 02 con.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Nhân thân:
+ Tại Bản án số 08/1992/BAHS ngày 11/5/1992 của Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Lai Châu (nay là tỉnh Điện Biên) xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa”.
+ Tại Bản án số 03/HSST ngày 09/3/1995 của Tòa án nhân dân thị xã Điện Biên, tỉnh Lai Châu (nay là tỉnh Điện Biên) xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa”, 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản riêng công dân”
09 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản riêng công dân”. Tổng hợp hình phạt chung của cả ba tội là 36 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/7/1997.
+ Tại Bản án số 88/HSST ngày 21/4/1998 của Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu xử phạt 08 năm tù giam về tội “Môi giới mại dâm”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/1/2005. Chấp hành xong khoản án phí ngày 31/8/1998, chấp hành xong tiền phạt ngày 25/9/2013.
+ Tại Bản án số 14/2006/HSST ngày 07/6/2006 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xử phạt 48 tháng tù về tội “Công nhiên chiếm đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/6/2009.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/4/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T. (Có mặt)
* Người chứng kiến:
Ông Tăng Đình H, sinh năm 1960 (Vắng mặt)
Trú tại: Tổ I, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 10 phút ngày 17/4/2024, tổ công tác của Công an phường T, thành phố T đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ A của phường thì phát hiện 01 nam giới có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Qua kiểm tra, nam giới trên khai tên là Cao Mạnh T và tự giác lấy từ lòng bàn tay phải ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy bạc màu vàng chứa chất bột màu trắng (theo T khai là Heroine). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành cân xác định: Số chất bột màu trắng thu giữ của T có khối lượng 0,205 gam (niêm phong T1 gửi giám định).
Tại Kết luận giám định số 547/KL-KTHS ngày 20/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,205 gam.
Tại cơ quan điều tra Cao Mạnh T khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 17/4/2024, T đi bộ từ nhà đến khu vực đường dân sinh thuộc phường T, thành phố T mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, T gặp và mua của một nam thanh niên không quen biết 01 gói Heroine với giá 100.000 đồng. Mua xong, T
cầm gói ma túy ở lòng bàn tay phải rồi đi bộ tìm nơi sử dụng. Khi đi được một đoạn thì bị tổ công tác Công an phường T bắt quả tang thu giữ vật chứng như trên.
Vật chứng của vụ án: 02 bì niêm phong ký hiệu T1, T2 bên trong chứa mẫu vật còn lại sau giám định và vỏ bao mẫu vật. Hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số 294/CT-VKSTPTN ngày 09/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Cao Mạnh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Phần luận tội tại phiên tòa hôm nay, sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Cao Mạnh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 21 tháng đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy: Chất ma túy và vỏ bao gói mẫu được đựng trong phong bì niêm phong ký hiệu T1, T2.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về gia đình, xã hội trong lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[2]. Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ
xác định: Hồi 11 giờ 10 phút ngày 17/4/2024, tại khu vực tổ A, phường T, thành phố T, Cao Mạnh T đang có hành vi tàng trữ 0,205 gam chất ma túy, loại Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường T, thành phố T và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.
Với hành vi nêu trên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung điều luật quy định như sau:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) ....
c) Heroine .. có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”
[3]. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Bị cáo có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần phải được xử lý bằng pháp luật hình sự, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời răn đe, phòng chống tội phạm chung.
[4]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 04 lần bị xét xử về tội Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa, Trộm cắp tài sản riêng của công dân, Công nhiên chiếm đoạt tài sản, Môi giới mại dâm. Các bản án này đã được xóa án tích, tuy nhiên thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Do vậy, cần có bản án nghiêm khắc đối với bị cáo, để cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời răn đe, phòng chống tội phạm chung.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tài sản gì, không có thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[5]. Vật chứng vụ án:
- Số ma túy còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu được niêm phong kí hiệu T1, T2 không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
[6]. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[7]. Về nguồn gốc số Heroine thu giữ, T khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch tại khu vực phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có cơ sở làm rõ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Cao Mạnh T (Cao Công T1) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Cao Mạnh T (Cao Công T1) 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/4/2024.
- Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng Hình sự, quyết định tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2. Vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 bì niêm phong ký hiệu T1 bên trong chứa 0,191 gam ma túy, loại Heroine và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định.
- 01 bì niêm phong ký hiệu T2 bên trong chứa vỏ bao thu giữ ban đầu.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 07 ngày 17/10/2024 giữa Công an thành phố T với Chi cục THADS thành phố T).
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016: Buộc bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thúy Quỳnh |
Bản án số 311/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm về tội tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 311/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tàng trữ ma túy
