|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Số: 311/2024/HS-ST Ngày: 05/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Lượng
- Ông Huỳnh Tiến Dũng
-
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
-
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Đức – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 139/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 337/2024/QĐXXST–HS ngày 17 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Phạm Cao T, sinh năm: 1984 tại tỉnh Tiền Giang; thường trú: Thường trú: 4 C, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: Căn hộ A tòa nhà S, V, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Nhân viên; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Văn H và bà: Nguyễn Thị K; có vợ là Nguyễn Thị Thúy V và 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án: không có; tiền sự: không có; bị bắt, tạm giam từ ngày: 13/11/2023 đến ngày 06/02/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
-
- Bị hại: Trần Thị Yến N, sinh năm: 2005 – chết ngày: 12/11/2023.
-
- Người đại diện hợp pháp của bị hại:
Bà Lê Thị C, sinh năm: 1977 – Là mẹ của Trần Thị Yến N.
Thường trú: Thôn 9, xã Thọ Ngọc, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở: 863/15 Nguyễn Xiển, khu phố Long Hòa, phường Long Thạnh Mỹ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
-
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Ông Vũ Chí C1, sinh năm: 1989.
Địa chỉ: S V, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
-
Ông Hoàng Minh P, sinh năm: 1967.
Địa chỉ: B N, khu phố B, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
-
Bà Lê Thị Ngọc T1, sinh năm: 2005.
Địa chỉ: 8 N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
-
Bà Nguyễn Thị K1, sinh năm: 1971.
Địa chỉ: B đường số B, khu phố L, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
-
Ông Nguyễn Văn N1, sinh năm: 1981.
Địa chỉ: B đường số A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
-
Ông Phan Văn N2, sinh năm: 1955.
Địa chỉ: D đường số A, khu phố G, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
-
Ông Trương Ngọc Q, sinh năm: 1990.
Địa chỉ: B N, khu phố G, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
-
Ngân hàng TMCP T5.
Địa chỉ: A L, Phường C, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Việt H1 (Văn bản ủy quyền số 21/2024/GUQ-TPB.DR.KHCN.MN ngày 18/6/2024). (có mặt)
-
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1]. Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 12/11/2023, Phạm Cao T cùng Huỳnh Hải H2, Lê Thanh T2, Lâm Văn T3, Ôn Văn T4 ngồi uống bia tại căn hộ số 17.17 tầng 17, tòa S, khu dân cư V thuộc phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, T uống được 06 lon thì cảm thấy mệt nên nghỉ không uống nữa, chỉ còn lại T2, T3, H2, T4 uống hết số bia trong hai thùng bia. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, T2 ở lại nhà T, còn T điều khiển xe ô tô hiệu Vinfast, màu đen, biển số 51K–020.07 chở T3, H2, T4 từ khu dân cư V ra đường N để đón xe buýt về. Khi xe lưu thông đến gần trụ điện 42, đường N, khu phố G, phường L, thành phố T, T đã để xe ô tô lấn sang phần đường ngược chiều, va chạm cửa trước bên trái xe ô tô hiệu Vinfast màu đen, biển số 51K-093.84 do ông Vũ Chí C1 điều khiển lưu thông hướng ngược lại. Sau khi va chạm với xe của
ông C1, do hoảng loạn nên T tiếp tục điều khiển xe ô tô lấn hoàn toàn sang hết phần đường ngược chiều, lần lượt va chạm với xe ô tô biển số 51H-774.96 do ông Hoàng Minh P điều khiển lưu thông theo chiều ngược lại; va chạm vào xe mô tô biển số 59X1-353.44 do bà Trần Thị Yến N điều khiển chở bà Lê Thị Ngọc T1 và va chạm với xe mô tô biển số 51X4–8893 do bà Nguyễn Thị K1 điều khiển lưu thông theo chiều ngược lại. Sau đó, xe ô tô lao lên vỉa hè va chạm vào xe mô tô biển số 39F1-9357 của ông Nguyễn Văn N1 đang dựng trước tường rào nhà số B N, sau đó xe ô tô ủi sập bức tường rào này rồi mới dừng lại. Sau tai nạn, T đã đi đến Công an để trình báo sự việc. Hậu quả sau tai nạn, bà Trần Thị Yến N chết tại chỗ, bà Lê Thị Ngọc T1 và bà Nguyễn Thị K1 bị xây xát nhẹ. 03 xe ô tô bị hư hỏng, 03 xe mô tô bị hư hỏng nhẹ, 01 bức tường bị sập.
Quá trình điều tra, Phạm Cao T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Kết quả xét nghiệm nồng độ cồn tại Bệnh viện Q1 đối với Phạm Cao T là 188.8 mg/dl.
Kết luận giám định tử thi số 12743-23/KL-KTHS ngày 20/12/2023 của Phòng K2 Công an Thành phố H kết luận: Trần Thị Yến N chết do đa chấn thương.
Kết luận giám định số 286/KL-KTHS ngày 29/01/2024 của Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
-
- Xe ô tô biển số 51K-020.07 va chạm lần lượt với các phương tiện: xe ô tô biển số 51K-093.84, xe ô tô biển số 51H-774.96, xe mô tô biển số 59X1-353.44, xe mô tô biển số 51X4-8893, xe mô tô biển số 39F1-9357. Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa 06 phương tiện nêu trên với phương tiện hay vật cản khác trước khi xảy ra tai nạn giao thông.
-
- Dấu vết trượt xước các chi tiết bên trái phía trước xe ô tô biển số 51K-020.07 có chiều từ trước về sau, dấu vết trên bánh xe có chiều từ mặt lăn vào tâm phù hợp với dấu vết trượt xước, biến dạng các chi tiết bên trái xe ô tô biển số 51K-093.84 có chiều từ trước về sau, dấu vết trên bánh xe có chiều từ mặt lăn vào tâm. Bên trái phía trước xe ô tô biển số 51K- 020.07 và phía trước bên trái xe ô tô biển số 51K-093.84 là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện khi tham gia tai nạn giao thông, vị trí này chiếu xuống mặt đường thuộc phần đường bên trái đường N theo hướng từ ngã ba G về ngã ba M.
-
- Dấu vết trượt xước, biến dạng, mất chất màu đen các chi tiết bên phải phía trước xe ô tô biển số 51K-020.07 có chiều từ trước về sau, từ trái sang phải phù hợp với dấu vết trượt xước, biến dạng, gây vỡ, bám chất màu đen các chi tiết bên phải phía trước xe ô tô biển số 51H-774.96 có chiều từ trước về sau từ trái sang phải. Bên phải cản trước xe ô tô biển số 51K-020.07 và bên phải cản trước xe ô tô biển số 51H-774.96 là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện khi tham gia tại nạn giao thông, vị trí này chiếu xuống mặt đường thuộc phần đường bên trái đường N theo hưởng từ ngã ba G về ngã ba M.
-
- Dấu vết trượt xước, mất chất màu đen các chi tiết bên phải phía trước xe ô tô biển số 51K-020.07 có chiều từ trước về sau phù hợp với đầu ván trượt xước, biến dạng, gây vỡ, bám chất màu đen các chi tiết bên trái xe mô tô biển số 59X1-353.44 có chiều từ trái sang phải. Bên phải cản trước xe ô tô biển số 51K-020.07 và phía trước bên trái xe mô tô biển số 59X1-353.44 là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện khi tham gia tai nạn giao thông, vị trí này chiếu xuống mặt đường thuộc phần đường bên trái đường N theo hướng từ ngã ba G về ngã ba M.
-
- Dấu vết trượt xước, mất chất màu đen bên phải nắp capô xe ô tô biển số 51K-020.07 có chiều từ trước về sau phù hợp với đầu ván trượt xước, bám chất màu đen các chi tiết bên trái xe mô tô biển số 51X4-8893 có chiều từ trái sang phải. Bên phải nắp capô xe ô tô biển số 51K- 020.07 và bên trái phía trước xe mô tô biển số 51X4-8893 là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện khi tham gia tai nạn giao thông, vị trí này chiếu xuống mặt đường thuộc phần đường bên trái đường N theo hướng từ ngã ba G về ngã ba M.
-
- Dấu vết trượt xước các chi tiết bên phải xe ô tô biển số 51K-020.07 có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước, biến dạng, gãy vỡ các chi tiết bên trái xe mô tô biển số 39F1-9357 có chiều từ trái sang phải. Bên phải cản trước xe ô tô biển số 51K-020.07 và phía trước bên trái xe mô tô biển số 39F1-9357 là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện khi tham gia tai nạn giao thông, vị trí này chiếu xuống mặt đường thuộc phần đường bên trái đường N theo hướng từ ngã ba G về ngã về ngã ba M.
-
- Dấu vết trượt xước, biến dạng, gãy vỡ, bám chất màu xanh và bê tông các chi tiết phía trước xe ô tô biển số 51K-020.07 có chiều từ trước và sau phía trước phù hợp va chạm với tường bê tông và rào sắt nhà bên đường.
Hiện trường xảy ra tai nạn là đoạn đường N, gần trụ điện 42 đường N, khu phố G, phường L, thành phố T, đoạn xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng được trải nhựa bằng phẳng, có vạch phân chia chiều đường màu vàng không liên tục, áp dụng lưu thông hai chiều, 01 chiều từ đường L về đường N có bề rộng 3m70 và 01 chiều lưu thông ngược lại có bề rộng 3m80.
Đối với ông Vũ Chí C1, ông Hoàng Minh P, bà Trần Thị Yến N, bà Lê Thị Ngọc T1, bà Nguyễn Thị K1 đi đúng phần đường. Ông Vũ Chí C1, ông Hoàng Minh P không yêu cầu giám định tài sản bị hư hỏng; đại diện hợp pháp của bà Trần Thị Yến N, bà Lê Thị Ngọc T1 và bà Nguyễn Thị K1 bị xây xát nhẹ và xe bị hư nhẹ nên không yêu cầu giám định thương tích và thiệt hại tài sản. Do đó không có căn cứ để xử lý đối với tài sản bị hư hỏng và thương tích.
Vật chứng vụ án:
- - 01 xe ô tô biển số 51K – 020.07.
- - 01 giấy kiểm định của xe ô tô biển số 51K – 020.07.
- - 01 giấy phép lái xe mang tên Phạm Cao T.
- - 01 Giấy biên nhận thế chấp giấy đăng ký xe 51K – 020.07.
- - 02 thẻ nhớ.
Trách nhiệm dân sự: Phạm Cao T đã bồi thường số tiền 760.000.000 đồng cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Tại Bản Cáo trạng số 161/CT-VKSTPTĐ ngày 21/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố bị cáo Phạm Cao T về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Cao T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP T5 ủy quyền ông Nguyễn Việt H1 đại diện trình bày: Xe ô tô biển số 51K-020.07 do bị cáo Phạm Cao T đứng tên đã được thế chấp cho Ngân hàng TMCP T5 để đảm bảo cho một khoản vay. Nay, do khoản vay đã quá hạn nên ngân hàng yêu cầu Hội đồng xét xử trả xe cho bị cáo để ngân hàng tiến hành thủ tục thu hồi xe.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Phạm Cao T về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự, xem xét các tình tiết giảm nhẹ, đề nghị xử phạt bị cáo 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách theo quy định.
Về vật chứng thì xử lý theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Xét lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Cao T phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ khác như biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, các bản kết luận giám định và các biên bản hoạt động điều tra khác... Từ đó có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 12/11/2023, bị cáo Phạm Cao T đã sử dụng rượu bia với mức độ nồng độ cồn là 188.8 mg/dl, điều khiển xe ô tô biển số 51K-020.07 lưu thông trên đường N, khu phố G, phường L, thành phố T với vận tốc khoảng 30-40km/h. Khi gần đến trụ điện số 42, đường N, bị cáo điều khiển xe lấn sang phần đường ngược chiều va chạm với xe ô tô biển số 51K-093.84 do ông Vũ Chí C1 điều khiển. Bị cáo hoảng loạn nên để xe ô tô tiếp tục va chạm với xe ô tô biển số 51H-774.96 do ông Hoàng Minh P điều khiển, xe mô tô biển số 59X1-353.44 do bà Trần Thị Yến N điều khiển chở bà Lê Thị Ngọc T1, xe mô tô biển số 51X4-8893 do bà Nguyễn Thị K1 điều khiển; sau đó xe ô tô tiếp tục lao lên lề vỉa hè va chạm với xe mô tô biển số 39F1-9357 của ông Nguyễn Văn N1 đang dựng trước tường rào và ủi vào bức tường rào. Sau tai nạn, bà Trần Thị Yến N chết tại chỗ, 02 xe ô tô bị hư hỏng, 03 xe mô tô bị hư nhẹ, bà Lê Thị Ngọc T1 và bà Nguyễn Thị K1 bị xây xát nhẹ. Ông C1, ông P, bà K1, bà T1, ông N1 không yêu cầu giám định thiệt hại tài sản và thương tích. Hành vi của bị cáo đã vi phạm Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật giao thông đường bộ.
Với các tình tiết của vụ án đã được chứng minh tại phiên tòa, xét có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Cao T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo Điều 260 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn, trật tự công cộng, an toàn giao thông. Bị cáo sử dụng rượu bia với mức nồng độ cồn là 188,8 mg/dl nhưng vẫn điều khiển xe và lấn sang phần đường ngược chiều. Hậu quả là theo kết luận giám định pháp y tử thi, bà Trần Thị Yến N chết do đa chấn thương. Do đó, cần áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự để xét xử đối với hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã khắc phục, bồi thường thiệt hại là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu với lỗi vô ý; đã tự nguyện khắc phục, bồi thường toàn bộ hậu quả và được người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bãi nại, xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự; trước khi xét xử, người đại diện hợp pháp của bị hại có ý kiến xin xem xét cho bị cáo. Gia đình bị cáo có công với cách mạng, có ông nội là liệt sỹ, được tặng thưởng huân chương kháng chiến; khi sự việc xảy ra, vợ bị cáo bỏ đi và đang tiến hành thủ tục ly hôn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, phải nuôi 03 con nhỏ và mẹ già, Công an phường L xác nhận hiện 03 con đang sống với bị cáo. Bị cáo có nơi cư trú ổn định rõ ràng, có công việc ổn định, thời gian tại ngoại không vi phạm pháp luật; đã bị tạm giam một thời gian cũng đủ để răn đe. Từ những nhận định như trên, Hội đồng xét xử xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà xem xét cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo.
[3]. Về trách nhiệm dân sự:
- - Người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4]. Về xử lý vật chứng:
- - 01 xe ô tô biển số 51K – 020.07.
- - 01 giấy kiểm định của xe ô tô biển số 51K – 020.07.
- - 01 giấy phép lái xe mang tên Phạm Cao T.
- - 01 Giấy biên nhận thế chấp giấy đăng ký xe 51K – 020.07.
- Xét bị cáo đã thế chấp xe biển số 51K – 020.07 cho Ngân hàng TMCP T5. Tại phiên tòa, người đại diện của ngân hàng yêu cầu Hội đồng xét xử trả lại xe cho bị cáo để ngân hàng tiến hành thu hồi xe theo quy định; bị cáo đồng ý với ý kiến của ngân hàng D xét xử trả lại xe cho bị cáo.
- - 02 thẻ nhớ, lưu trong hồ sơ vụ án.
- - Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phạm Cao T phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
- - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Phạm Cao T 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm, tính từ ngày tuyên án.
- Giao bị cáo Phạm Cao T cho Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
- Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án này. Trường hợp người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.
- - Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
-
Trả lại cho bị cáo Phạm Cao T:
- + 01 xe ô tô biển số 51K – 020.07.
- + 01 giấy kiểm định của xe ô tô biển số 51K – 020.07.
- + 01 giấy phép lái xe mang tên Phạm Cao T.
- + 01 Giấy biên nhận thế chấp giấy đăng ký xe 51K – 020.07.
- (Theo Phiếu nhập kho số NK24/353C ngày 04/7/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức).
- Bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hồng Nga |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Hồng Nga |
Bản án số 311/2024/HS-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 311/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
