TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 311/2024/HNGĐ-ST
Ngày 17 - 5 - 2024
V/v tranh chấp hôn nhân gia
đình về “Ly hôn, tranh chấp về
nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG.
Thành phần xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Bùi Văn Chiến.
- - Thư ký phiên toà: ông Trần Thiện Nhân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân.
Trong ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án theo thủ tục rút gọn thụ lý số 282/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn số: 262/2024/QÐST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Phạm Thị Thu N, sinh năm 1982.
- Bị đơn: Anh Võ Thanh T, sinh năm 1977
Nơi cư trú: tổ A, khóm P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang.
Nơi cư trú: tổ A, khóm P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang.
(chị N và anh T xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Căn cứ theo đơn khởi kiện, biên bản hòa giải, ý kiến trình bày của chị Phạm Thị Thu N như sau:
- - Về hôn nhân: Chị và anh Võ Thanh T sau thời gian tự tìm hiểu đến năm 2009 thì chung sống với nhau như vợ chồng, không tổ chức lễ cưới và không đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm 2022 thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau không có tiếng nói chung trong cuộc sống, từ đó ly thân cho đến nay. Sau khi ly thân cả hai cũng không muốn hàn gắn, hiện tại mỗi người có cuộc sống riêng, nay chị yêu cầu được ly hôn với anh Võ Thanh T.
- - Về con chung: có 01 con chung tên Võ Nhật K, sinh ngày 07/4/2017, hiện do chị đang nuôi dưỡng. Nay ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con.
- - Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn ông Võ Thanh T trình bày:
- - Về hôn nhân: quá trình tìm hiểu chung sống và mâu thuẫn trong cuộc sống của anh với chị N, anh thống nhất với trình bày của chị N. Nay chị N yêu cầu ly hôn anh cũng đồng ý ly hôn.
- - Về con chung: có 01 con chung tên Võ Nhật K, sinh ngày 07/4/2017, hiện con chung chị N đang nuôi dưỡng. Nay ly hôn anh cũng đồng ý tiếp tục giao cho chị N nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng cho con.
- - Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về người tham gia tố tụng: Chị N và anh T có yêu cầu được vắng mặt khi xét xử, anh chị có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình, do đó xét xử vắng mặt anh, chị theo Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự để đảm bảo quyền lợi cho các bên.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: bị đơn anh Võ Thanh T cư trú tại tổ A, khóm P, thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang nên chị N khởi kiện xin ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng Dân sự.
[1.3] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: chị N xin ly hôn và giải quyết việc nuôi con nên quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng Dân sự.
[2] Về nội dung: xét chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện hôn nhân của anh, chị được xác lập năm 2009 do hai người tự tìm hiểu, tự nguyện chung sống, không tổ chức lễ cưới, không đăng ký kết hôn, thời gian đầu sống hạnh phúc đến năm 2022 phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau rồi ly thân cho đến nay, sau khi ly thân anh, chị không tạo điều kiện để hàn gắn mà mỗi tự lo cho cuộc sống riêng cho mình, từ đó tình cảm vợ chồng phai nhạt, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do anh chị không đăng ký kết hôn nên không được pháp luật thừa nhận, vì hôn nhân của anh chị là hôn nhân không hợp pháp do vi phạm Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình, do đó để anh chị có cuộc sống riêng nên không công nhận anh chị là vợ chồng theo quy định tại Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Về con chung: có 01 con chung tên Võ Nhật K, sinh ngày 07/4/2017, hiện chị N đang nuôi dưỡng, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh T cấp dưỡng cho con, anh T cũng đồng ý. Xét thấy việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn, vợ chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với con chưa thành niên theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, hiện con chung đang do chị N nuôi dưỡng chăm sóc ổn định, cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu, nên Hội đồng xét xử giao cháu Võ Nhật K cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng đến thành niên hoặc tự lập được, anh T không phải cấp dưỡng cho con.
- Về tài sản chung và nợ chung: các bên không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Ghi nhận lời trình bày đương sự không có nợ chung, nhưng sau khi Bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì anh T, chị N phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
Ngoài ra, các bên không tranh chấp về vấn đề gì khác nên không đặt ra xem xét.
[3] Về án phí: chị Phạm Thị Thu N là người xin ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn theo quy định pháp luật.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Điều 9; Điều 14; Điều 15; Điều 53 và Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 322 Bộ Luật tố tụng Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự;
- - Căn cứ Điều 26; Điều 27; Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- - Về quan hệ hôn nhân: không công nhận chị Phạm Thị Thu N và anh Võ Thanh T là vợ chồng.
- - Về con chung: Giao cháu Võ Nhật K, sinh ngày 07/4/2017 cho chị Phạm Thị Thu N tiếp tục nuôi dưỡng đến thành niên hoặc tự lập được, anh Võ Thanh T không phải cấp dưỡng cho con.
- - Về tài sản và nợ chung: không đặt ra giải quyết
- - Về án phí sơ thẩm: chị Phạm Thị Thu N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006864 ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, anh Võ Thanh T không phải chịu án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 07 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Chiến |
Bản án số 311/2024/HNGĐ-ST ngày 17/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 311/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: không công nhận chị Phạm Thị Thu N và anh Võ Thanh T là vợ chồng
