|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 311/2024/HNGĐ-ST Ngày 14/11/2024 “V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Phương
Ông Ngô Văn Bê
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 14/11/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 266/2024/TLST-HNGĐ ngày 11/10/2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 245/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04/11/2024 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Trương Thị C, sinh năm 1994 (xin vắng mặt)
HKTT: thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Chị C hiện đang sinh sống tại Đài Loan.
Người đại diện nhận văn bản tố tụng của chị Trương Thị C: Chị Trương Thị Đ, sinh năm 1990; Địa chỉ: thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
* Bị đơn: Anh Phùng Văn P, sinh năm 1993 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Q, xã Y, huyện L, tỉnh Bắc Giang
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Trương Văn H, sinh năm 1962 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: thôn S, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai chị Trương Thị C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phùng Văn P kết hôn với nhau ngày 29/11/2012, việc kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và đã đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện L. Sau khi kết hôn chị về nhà anh P làm dâu và chung sống hòa thuận. Năm 2020 chị đi Đài Loan xuất khẩu lao động, đến cuối năm 2020 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, trong thời gian thuẫn vợ chồng nhiều lần nói chuyện với mong muốn hòa giải để chăm sóc các con nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Kể từ tháng 12/2020 đến nay chị và anh P không ai còn quan tâm đến nhau, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phùng Văn P.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Phùng Thị Minh T, sinh ngày 07/5/2013 và cháu Phùng Thị Trang Y, sinh ngày 20/02/2017. Sau khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cả cháu T và cháu Y cho chị chăm sóc, nuôi dưỡng, nhưng tạm giao cho ông ngoại là ông Trương Văn H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị về Việt Nam sinh sống. Về cấp dưỡng nuôi con anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án này.
* Bị đơn anh Phùng Văn P trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trương Thị C kết hôn với nhau ngày 29/11/2012 và đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện L. Năm 2020 chị C đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan và vợ chồng sau đó đã xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Vừa qua chị C về Việt Nam nghỉ phép nhưng vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm gì đến nhau. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh đồng ý được ly hôn với chị Trương Thị C.
Về con chung: Vợ chồng có có 02 con chung là cháu Phùng Thị Minh T, sinh ngày 07/5/2013 và cháu Phùng Thị Trang Y, sinh ngày 20/02/2017. Hiện nay các cháu vẫn đang sinh sống cùng anh nhưng các cháu đều có nguyện vọng được ở cùng chị C và ông ngoại là Trương Văn H. Do đó, khi ly hôn anh đề nghị Tòa án giao cháu T và cháu Y cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng và tạm giao cho ông H nuôi dưỡng các cháu trong thời gian chị C ở nước ngoài. Về cấp dưỡng nuôi con anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ: không đề nghị Tòa án giải quyết
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trương Văn H trình bày:
Ông là bố đẻ của chị Trương Thị C, việc chị C và anh P giải quyết ly hôn bà không can thiệp. Vợ chồng chị C và anh P có 02 con chung là cháu Phùng Thị Minh T, sinh ngày 07/5/2013 và cháu Phùng Thị Trang Y, sinh ngày 20/02/2017. Hiện nay các cháu vẫn đang sinh sống cùng anh P nhưng các cháu đều có nguyện vọng được ở cùng chị C. Theo đơn khởi kiện chị C cũng có đề nghị Tòa án giao cả cháu T và cháu Y cho chị C nuôi dưỡng. Nay chị C tiếp tục đi Đài Loan lao động và có nguyện vọng nuôi con và muốn giao cho ông thay chị C chăm sóc các con của chị C. Vậy ông đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của chị Trương Thị C, giao cháu Phùng Thị Minh T và cháu Phùng Thị Trang Y cho chị Trương Thị C nuôi dưỡng. Đồng thời ông đồng ý và đề nghị Tòa án tạm giao cả hai cháu cho ông chăm sóc nuôi dưỡng trong thời gian chị C ở nước ngoài. Về việc cấp dưỡng nuôi các cháu gia đình sẽ tự thống nhất nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Tòa án đã làm việc với cháu Y và cháu T, cả hai cháu đều trình bày có nguyện vọng được ở với mẹ và ông ngoại.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự đều xin vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, các đương sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị C. Xử:
Cho chị Trương Thị C được ly hôn anh Phùng Văn P.
Về con chung: Giao cháu Phùng Thị Minh T và cháu Phùng Thị Trang Y cho chị Trương Thị C nuôi dưỡng nhưng tạm giao cho ông Trương Văn H nuôi dưỡng trong thời gian chị C ở nước ngoài. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: chị Trương Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Trương Thị C hiện đang sinh sống ở nước ngoài có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, trách nhiệm nuôi con chung với anh Phùng Văn P. Tại công văn số 3443/QLXNC ngày 24/10/2024 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh - Công an tỉnh B thì chị Trương Thị C đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 27/8/2024, đến nay chưa có thông tin nhập cảnh. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại thời điểm Tòa án thụ lý giải quyết vụ án do chị C đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa chị C, anh P và ông H có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị C và anh Phùng Văn P kết hôn với nhau ngày 29/11/2012 tại UBND xã Y, huyện L, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn chị C xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh P. Xem xét đơn khởi kiện của chị C, HĐXX thấy: chị C xác định hiện nay vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, đã sống ly thân với nhau và không còn quan tâm đến nhau nữa. Anh P cũng có ý kiến trình bày vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng và đồng ý ly hôn với chị C. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị C và anh P đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị C, xử cho chị C được ly hôn với anh P.
[4]. Về con chung: chị C và anh P có 02 con chung là cháu Phùng Thị Minh T, sinh ngày 07/5/2013 và cháu Phùng Thị Trang Y, sinh ngày 20/02/2017. Cả hai cháu hiện nay đều đang sinh sống cùng anh P. Chị C đề nghị được nuôi cả hai con, anh P có ý kiến đồng ý giao cả hai cháu cho chị C nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử thấy: Cháu T và cháu Y đều có nguyện vọng được ở cùng chị C và ông ngoại; ông H cũng có ý kiến đồng ý nuôi dưỡng cháu T và cháu Y trong thời gian chị C ở nước ngoài. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của các cháu cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu T và cháu Y cho chị C được trực tiếp nuôi dưỡng nhưng tạm giao cho ông Trương Văn H chăm sóc nuôi dưỡng trong thời gian chị C ở nước ngoài.
Về cấp dưỡng nuôi con chung các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh P không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình.
[5]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): chị C không đề nghị nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.
[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Trương Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị C.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị C được ly hôn anh Phùng Văn P.
- Về con chung: Giao cháu Phùng Thị Minh T, sinh ngày 07/5/2013 và cháu Phùng Thị Trang Y, sinh ngày 20/02/2017 cho chị Trương Thị C trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi nhưng tạm giao cho ông Trương Văn H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi chị Trương Thị C về nước sinh sống hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.
Sau khi ly hôn, anh Phùng Văn P không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về án phí: Chị Trương Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000109 ngày 11/10/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
- Về quyền kháng cáo:
- Chị Trương Thị C hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Anh Phùng Văn P và ông Trương Văn H cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hải Hường |
Bản án số 311/2024/HNGĐ-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 311/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Châm ly hôn Phương
