|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 311/2024/HNGĐ-ST Ngày: 12-6-2024 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Kiều
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hữu Long
- Ông Lê Văn Thanh
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4 - Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4 tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 417/2023/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 404/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 14 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Băng T, sinh năm 1979
Bị đơn: Ông Hồ Minh M, sinh năm 1979
Cùng địa chỉ: 1 T, Phường A, Quận D, TP .
(Bà T và ông M vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 23/8/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Băng T trình bày:
Bà tự nguyện chung sống với ông Hồ Minh M từ năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận D. Quá trình chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn không giải quyết được do không cùng quan điểm sống, không hòa hợp trong cách nuôi dạy con. Ông M không quan tâm đến vợ con. Nay nhận thấy không còn tình cảm với ông M nên bà xin ly hôn để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Bà và ông M có hai con chung tên: Hồ Hoàng Y, sinh ngày 12/4/2008 và Hồ Thiên M1, sinh ngày 17/7/2010. Khi ly hôn, bà xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà T xác nhận không có.
Bị đơn ông Hồ Minh M đã được Tòa án tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án số 417/TB-TLVA ngày 12/10/2023, nhưng ông M không có ý kiến. Tòa án đã triệu tập ông M đến tòa để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ nhất vào ngày 25/01/2024, lần thứ hai vào ngày 10/4/2024 nhưng ông M đều vắng mặt không có lý do nên trong hồ sơ vụ án không có ý kiến của ông M về yêu cầu khởi kiện của bà T.
Căn cứ kết quả xác minh của Công an P, Quận D thì ông Hồ Minh M, sinh năm 1979, hộ khẩu thường trú 1 T, Phường A, Quận D và thực tế cư trú tại địa chỉ trên.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng dân sự quy định. Các đương sự tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
+ Về quan hệ vợ chồng: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Băng T xin ly hôn ông Hồ Minh M.
+ Về con chung: Giao 02 con chung tên Hồ Hoàng Y, sinh ngày 12/4/2008 và Hồ Thiên M1, sinh ngày 17/7/2010 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.
+ Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà T xác nhận không có. Ông M vắng mặt không có lời khai tại Tòa án nên không xem xét, giải quyết.
+ Về án phí: Bà Nguyễn Thị Băng T phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn là vụ án dân sự về tranh chấp ly hôn. Bị đơn là ông Hồ Minh M đang cư trú tại Quận D nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 4 theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Tại phiên tòa: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Băng T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt (đơn đề ngày 10/4/2024). Bị đơn ông Hồ Minh M vắng mặt không có lý do (vắng mặt lần thứ hai). Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[3] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Băng T và ông Hồ Minh M chung sống với nhau từ năm 2008, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, Quận D (Giấy chứng nhận kết hôn số 65, quyển số 01/2008 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận D cấp ngày 15/5/2008) nên hôn nhân giữa bà T và ông M là hôn nhân hợp pháp.
Bà T xác nhận, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn không giải quyết được do không cùng quan điểm sống, không hòa hợp trong cách nuôi dạy con. Tuy sống chung nhà nhưng bà và ông M đã ly thân và không còn quan tâm đến nhau. Do không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống với ông M nên bà xin ly hôn để ổn định cuộc sống.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông M đến Tòa để tham dự phiên hòa giải đoàn tụ nhưng ông M vắng mặt không có lý do. Để có cơ sở xem xét yêu cầu của bà T, Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương nơi bà T và ông M đang sinh sống. Kết quả xác minh cho thấy: “Ủy ban nhân dân phường không có thông tin về việc hiện nay bà T và ông M có cùng chung sống hoặc ly thân. Ủy ban nhân dân phường chưa ghi nhận thông tin về mâu thuẫn vợ chồng của bà T và ông M nên không năm được mức độ mâu thuẫn và nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa hai bên. Qua rà soát, Ủy ban nhân dân Phường A và các tổ chức chính trị xã hội phường chưa tiếp nhận yêu cầu hòa giải về mâu thuẫn gia đình của bà Nguyễn Thị Băng T và ông Hồ Minh M, chưa xử lý thông tin liên quan đến việc bạo hành gia đình giữa bà T và ông M nên không xác định được mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân của bà T và ông M. Bà Nguyễn Thị Băng T và ông Hồ Minh M có 02 con chung là Hồ Hoàng Y, sinh năm 2008 và Hồ Thiên M1, sinh năm 2010 đang sống cùng bà Nguyễn Thị Băng T”.
Xét thấy, hôn nhân giữa bà T và ông M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, bà T yêu cầu được ly hôn với ông M là có căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về con chung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì bà T và ông M có hai con chung tên: Hồ Hoàng Y, sinh ngày 12/4/2008 (Giấy khai sinh số 114, quyển số 01/2008 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận D cấp ngày 29/5/2008) và Hồ Thiên M1, sinh ngày 17/7/2010 (Giấy khai sinh số 153, quyển số 01/2010 do Ủy ban nhân dân Phường A, Quận D cấp ngày 31/8/2010). Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con. Tại bản tự khai ngày 17/10/2023, trẻ Hồ Hoàng Y và trẻ Hồ Thiên M1 có nguyện vọng sống với mẹ. Xét thấy, việc bà T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với nguyện vọng của con nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.
[5] Tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà T xác nhận không có. Ông Hồ Minh M vắng mặt không có lời khai tại Tòa án. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà T phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2016;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 và 131 của Luật Hôn nhân và gia đình có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2015;
Căn cứ vào Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Băng T.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Băng T được ly hôn với ông Hồ Minh M.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Băng T và ông Hồ Minh M có hai con chung tên Hồ Hoàng Y, sinh ngày 12/4/2008 và Hồ Thiên M1, sinh ngày 17/7/2010. Giao cả hai con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con.
Ông M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở, nhưng ông M không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.
Vì lợi ích của con khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Toà án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà Nguyễn Thị Băng T xác nhận không có. Ông Hồ Minh M vắng mặt không có lời khai tại Tòa án. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Băng T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Số tiền này được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà bà T đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số AA/2023/0042512 ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4. Bà T đã nộp đủ án phí.
Quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Băng T và ông Hồ Minh M có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Quyền kháng nghị: Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Kiều |
Bản án số 311/2024/HNGĐ-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 311/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
