|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH-TP . HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
Bản án số: 311/2024/HNGĐ-ST
Ngày 07/8/2024
"V/v ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thu Hằng. |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Kiều Xuân Mai |
| Bà Dương Thị Kim Lan |
-Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hạnh-Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mê Linh.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội: Bà Nguyễn Thị Hương Mai-Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 253/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2024/QĐXX-ST ngày 22 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị Ngọc Á, sinh năm 1998
- Bị đơn : Anh Phan Văn T, sinh năm 1997
Địa chỉ: Giai Thượng, Thắng Sơn, Thanh Sơn, Phú Thọ
Địa chỉ: D, T1, M, Hà Nội
Có mặt chị Á, vắng mặt anh T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 04/6/2024 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là chị Đinh Thị Ngọc Á trình bày:
-Về hôn nhân: Chị và anh Phan Văn T đăng ký kết hôn ngày 29/11/2017 tại UBND xã T1, huyện M, Hà Nội. Sau khi cưới chị về gia đình anh T làm dâu, vợ chồng ở chung cùng với gia đình anh T. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 2 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, anh T ham chơi không quan tâm đến gia đình. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 5/2018 đến nay, không ai quan tâm đến ai. Tại phiên tòa chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh T.
-Về con chung: Vợ chồng chị không có con chung.
-Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/7/2024 bị đơn là anh Phan Văn T trình bày:
-Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận như chị Á trình bày về thời gian, điều kiện kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 1 năm thì phát sinh mâu thuẫn nên chị Á đã tự ý bỏ nhà đi, anh và gia đình có đi tìm nhưng chị Á không quay về và vợ chồng anh sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Nay chị Á làm đơn xin ly hôn, anh đồng ý vì vợ chồng sống với nhau đã hết tình cảm.
-Về con chung: Vợ chồng anh không có con chung
-Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
-Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và nguyên đơn, bị đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
-Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình. Xử:
- +Về hôn nhân: Cho chị Đinh Thị Ngọc Á được ly hôn anh Phan Văn T.
- +Về con chung: Không có.
- +Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
- +Về án phí: Chị Á phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Mê Linh nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
-Về sự vắng mặt của bị đơn: Quá trình điều tra anh T có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn.
[1] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Đinh Thị Ngọc Á và anh Phan Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 29/11/2017 tại UBND xã T1, huyện M, Hà Nội. Do vậy, cuộc hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do trong cuộc sống vợ chồng sống không có sự tin tưởng lẫn nhau, thiếu sự quan tâm chia sẻ với nhau. Tại phiên tòa chị Á xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị được ly hôn. Đối với anh T vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra anh cũng xác định vợ chồng chung sống với nhau thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không còn tình cảm, vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ năm 2018 đến nay, không ai quan tâm đến ai nên việc chị Á làm đơn xin ly hôn, anh đồng ý. Như vậy, có thể thấy hôn nhân của anh chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Tòa án thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Á, cho chị được ly hôn anh T là phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2] Về nuôi con chung:
Quá trình chung sống anh chị đều xác nhận vợ chồng không có con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[3] Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Chị Á, anh T không đề nghị giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét, giải quyết.
[4] Về án phí: Chị Á phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28,35, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ các Điều 51,56 Luật hôn nhân và gia đình.
Căn cứ các Điều 146, 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về hôn nhân: Cho chị Đinh Thị Ngọc Á được ly hôn anh Phan Văn T..
- Về con chung: Không có.
- Về tài sản, công sức, nợ và đất sản xuất nông nghiệp: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
- Về án phí: Chị Á phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm, chị được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh theo Biên lai số 0008788 ngày 27/6/2024.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, chị Á được quyền kháng cáo. Anh T vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hằng |
Bản án số 311/2024/HNGĐ-ST ngày 07/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 311/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Ánh kết hôn với anh Trọng, do vợ chồng mâu thuẫn nên chị Ánh xin ly hôn.
