Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 311/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27-6-2025

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Quỳnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hoa

Bà Nguyễn Thị Ngân

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 382/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 277/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Phạm Văn N, sinh năm 1992;

Số định danh cá nhân: 040092031183

Địa chỉ cư trú: Thôn Y, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Chị Lê Thị Thu H, sinh năm 1998;

Số định danh cá nhân: 040198024277

Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Thôn Y, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An;

Hiện đang cư trú tại: Nước H; vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn, đơn yêu cầu thu thập chứng cứ, đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải, bản tự khai, đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nguyên đơn anh Phạm Văn N trình bày:

Anh và và chị Lê Thị Thu H kết hôn với nhau vào ngày 13 tháng 4 năm 2017 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là xã T), huyện T, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp. Từ đó, chị H trở về nhà cha mẹ đẻ tại xã T, huyện T sinh sống. Sau đó, chị H làm thủ tục đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài cho đến nay. Hiện tại, anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với chị Lê Thị Thu H.

Về con chung: Anh và chị Lê Thị Thu H có 02 con chung là Phạm Tuấn A, sinh ngày 01/11/2017 và Phạm Lê Thảo V, sinh ngày 16/4/2022. Hiện các con đang ở với anh và được anh chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, anh có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các con đến lúc trưởng thành và không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Phạm Văn N hiện đang cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nhưng do bận công việc nên anh có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn chị Lê Thị Thu H, hiện đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng qua thân nhân của chị Lê Thị Thu H là bà Trần Thị L (mẹ của chị H) đến lần thứ hai mà thân nhân của chị H cũng không cung cấp địa chỉ của chị H ở nước ngoài cho Tòa án biết. Đồng thời cho đến nay, chị H cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án và vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ và xét xử vụ án vắng mặt các đương sự bảo đảm tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, bà Trần Thị L (mẹ của chị H) có đơn trình bày: Chị Lê Thị Thu H là con của bà, đã đi lao động ở nước Hungary từ đầu năm 2024 đến nay, chưa về Việt Nam lần nào. Bà và chị H thường xuyên liên lạc điện thoại với nhau qua mạng xã hội. Tuy nhiên, do chị H không cung cấp địa chỉ cho bà nên bà không thể cung cấp địa chỉ của chị H ở nước ngoài cho Tòa án được. Sau khi nhận được các văn bản của Tòa án, bà đã thông tin cho chị H biết việc anh N nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Qua trao đổi với bà thì chị H cũng đồng ý ly hôn, nhất trí giao các con Phạm Tuấn A và Phạm Lê Thảo V cho anh N nuôi dưỡng; về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nhưng không có văn bản gửi cho Tòa án. Việc chị Lê Thị Thu H vắng mặt được xác định là cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của anh Phạm Văn N, cho anh N được ly hôn với chị Lê Thị Thu H. Về con chung: Đề nghị giao cho anh N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con Phạm Tuấn A, sinh ngày 01/11/2017 và Phạm Lê Thảo V, sinh ngày 16/4/2022 đến lúc đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại, anh N không yêu cầu nên đề nghị không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Anh N không yêu cầu và chị H chưa có ý kiến nên đề nghị không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung nhưng Tòa án phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết: Anh Phạm Văn N có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Lê Thị Thu H hiện đang cư trú ở nước ngoài; trước xuất cảnh, chị H có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.

Về thủ tục hòa giải: Căn cứ vào khoản 1 và khoản 4 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án không tiến hành hòa giải được vì bị đơn chị Lê Thị Thu H không thể tham gia hòa giải được do vắng mặt tại nơi cư trú và hiện đang ở nước ngoài, Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng chị H vẫn cố tình vắng mặt; về phía nguyên đơn, anh Phạm Văn N có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về sự vắng mặt của đương sự: Anh Phạm Văn N đã nộp đơn khởi kiện ly hôn, đơn yêu cầu thu thập chứng cứ, đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, bản tự khai, tài liệu cho Tòa án nhưng do bận công việc nên anh có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh N phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về tài liệu và chứng cứ mà anh đã nộp cho Tòa án. Chị Lê Thị Thu H hiện đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị H thông qua người thân là bà Trần Thị L (mẹ của chị H) gồm các văn bản: Thông báo thụ lý vụ án; Công văn “Yêu cầu cung cấp địa chỉ của chị Lê Thị Thu H”; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng khác. Đồng thời, yêu cầu chị H trình bày ý kiến về việc anh N có đơn ly hôn. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của chị H cũng không cung cấp địa chỉ của chị H ở nước ngoài cho Tòa án biết. Về phía bà Trần Thị L (mẹ của chị H) có đơn trình bày: Chị Lê Thị Thu H là con của bà, đã đi lao động ở nước Hungary từ đầu năm 2024 đến nay, chưa về Việt Nam lần nào. Bà và chị H thường xuyên liên lạc điện thoại với nhau qua mạng xã hội. Tuy nhiên, do chị H không cung cấp địa chỉ cho bà nên bà không thể cung cấp địa chỉ của chị H ở nước ngoài cho Tòa án được. Sau khi nhận được các văn bản của Tòa án, bà đã thông tin cho chị H biết việc anh N nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Qua trao đổi với bà thì chị H cũng đồng ý ly hôn, nhất trí giao các con Phạm Tuấn A và Phạm Lê Thảo V cho anh N nuôi dưỡng; về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã mở phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất vào ngày 09/6/2025 và lần thứ hai vào ngày 27/6/2025 nhưng cả hai lần chị H đều vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án. Do đó, việc chị Lê Thị Thu H vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ; từ chối khai báo theo quy định tại Điều 10 Nghị Quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình. Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Văn N và chị Lê Thị Thu H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là xã T), huyện T, tỉnh Nghệ An vào ngày 13 tháng 4 năm 2017, là hôn nhân hợp pháp. Theo anh N trình bày: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp. Từ đó chị H trở về nhà cha mẹ đẻ tại xã T, huyện T sinh sống. Sau đó, chị H làm thủ tục đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài cho đến nay. Theo Công văn số 9102/QLXNC-P3 ngày 21/4/2025 của Cục Q, Bộ C cung cấp: Chị Lê Thị Thu H đã xuất cảnh ngày 27/02/2024, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Nay anh N xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho anh được ly hôn với chị H. Xét thấy, hôn nhân giữa anh Phạm Văn N và chị Lê Thị Thu H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh N yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

[3]. Về con chung: Theo anh Phạm Văn N trình bày, anh và chị H có 02 con chung, hiện các con đang ở với anh và được anh chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, anh N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con đến lúc trưởng thành. Nguyện vọng của anh N phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con, phù hợp với nguyện vọng của con và đúng quy định của pháp luật; vì hiện nay, chị H đang ở nước ngoài và cố tình dấu địa chỉ còn anh N đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con. Căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu của anh N. Giao cho anh Phạm Văn N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con Phạm Tuấn A, sinh ngày 01/11/2017 và Phạm Lê Thảo V, sinh ngày 16/4/2022 đến lúc các con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại, anh N không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Phạm Văn N không yêu cầu và chị Lê Thị Thu H chưa có ý kiến nên Tòa án không giải quyết trong vụ án này. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

[5]. Về án phí: Anh Phạm Văn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 37; Điều 40; khoản 4 Điều 147; khoản 1 và khoản 4 Điều 207; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Phạm Văn N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Văn N được ly hôn chị Lê Thị Thu H.

2. Về con chung: Giao cho anh Phạm Văn N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Phạm Tuấn A, sinh ngày 01/11/2017 và Phạm Lê Thảo V, sinh ngày 16/4/2022 đến lúc các con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại, anh N không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Sau khi ly hôn, chị Lê Thị Thu H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không giải quyết trong vụ án này; dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

4. Về án phí: Anh Phạm Văn N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng anh N đã nộp đủ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0011979 ngày 26/02/2025 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Anh Phạm Văn N đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.

5. Về quyền kháng cáo: Anh Phạm Văn N có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết. Chị Lê Thị Thu H có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Thanh Quả, Thanh Chương, NA;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Văn Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 311/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 311/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn N - Lê Thị Thu H - ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger