TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 311/2024/HS-ST Ngày: 28/6/2024. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thị Xuân Lang
- Bà Đặng Thị Huệ Tú
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 313/TLST-HS ngày 23/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3143/2024/QĐXXST-HS ngày 12/6/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Xuân H, sinh ngày 11/3/1991 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 516 Nguyễn D, Phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: không nơi cư trú nhất định; trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân Đ (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim L; có vợ là Nguyễn Thị Thu T (đã ly hôn), có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án:
- + Ngày 21/8/2013,bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù nhưng được cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm 08 tháng, về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 350/2013/HSST ngày 21/8/2013.
- + Ngày 12/7/2016, bị Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 09 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành chung của hai bản án là 06 năm 09 tháng tù (theo Bản án số 190/2016/HSST ngày 12/7/2016). Ngày 28/4/2020 bị can H đã chấp hành xong hình phạt tù; Tiền sự: không.
Bị bắt, tạm giam ngày 08/8/2023. (có mặt).
Bị hại: Ông Kim Bong J, sinh năm 1959, quốc tịch: HQ; địa chỉ khi ở tại Việt Nam: Số 8 Nguyễn Thiện T, phường TT, TP. TĐ, Thành phố Hồ Chí Minh (đã xuất cảnh, vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài nên vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 01/3/2023, Nguyễn Xuân H điều khiển xe Future màu đen, biển số 5981-703.xx đi qua các tuyến đường, tìm người có tài sản sơ hở để cướp giật, bán lấy tiền tiêu xài cá nhân thì phát hiện ông Kim Bong J (sinh năm 1959, Quốc tịch HQ) đang đứng trước cửa hàng C tại số 192 Ngô Gia T, Phường F, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh, trên vai đang đeo túi xách màu đen, nên H điều khiển xe vòng lại, chạy lên vỉa hè, chạy ngang qua vị trí của ông Kim Bong J đang đứng (vòng lại 02 lần), rồi điều khiển xe áp sát ông Kim Bong J từ phía sau, dùng tay trái giật túi xách của ông Kim Bong J đang đeo, rồi tăng ga bỏ chạy thoát.
Sau khi cướp giật được tài sản, H điều khiển xe chạy qua các tuyến đường về hướng Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh. Trên đường đi, H mở túi xách lấy tiền, rồi ném bỏ túi xách cùng giấy tờ bên trong tại đường Võ Văn K, đoạn từ ngã ba đường Vạn T đến ngã ba đường Kim B, thuộc Phường H, Quận V, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, khi đến khu vực Quận S (không nhớ rõ chính xác địa chỉ), H gọi điện và cầm xe Future màu đen, biển số 59S1-703.xx cho Nguyễn Hoàng L (tên gọi khác “Út T”; sinh năm 1988; Cư trú tại 113 Trần Văn Đ, Phường K, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh) với giá 20.000.000 đồng, rồi đón taxi ra sân bay Tân Sơn N để đi Đà N du lịch. Trên đường đi, H kiểm tra số tiền cướp giật được gồm: 800 USD (Đô la Mỹ) và 11.000.000 VNĐ. Khi đến Đà N, H bỏ hết quần áo, giày đã sử dụng khi cướp giật và mua trang phục mới để sử dụng.
Đối với ông Kim Bong J, sau khi bị cướp giật đã đến Công an Phường F, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh trình báo sự việc bị cướp giật tài sản là 01 túi xách bên trong có 3000 USD, giấy phép lái xe và thẻ ngân hàng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận K đã chuyển nguồn tin đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh để thụ lý theo thẩm quyền. Đến ngày 05/3/2023, ông Kim Bong J xuất cảnh về lại Hàn Quốc.
Qua truy xét, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định Nguyễn Xuân H là người đã thực hiện hành vi “Cướp giật tài sản” của ông Kim Bong J tại trước số 192 Ngô Gia T, Phường F, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh nên đã tiến hành khởi tố bị can, bắt bị can để tạm giam để điều tra theo quy định. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Kết luận định giá tài sản số 387/KL-HĐĐGTS ngày 20/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận K kết luận: Tỷ giá đồng USD (đô la Mỹ) vào ngày 01/3/2023 có giá là 23.550 đồng/USD. 3000 USD (đô la Mỹ) vào ngày 01/3/2023 có giá là 76.650.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 210/CT-VKS-P2 ngày 28/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
Bị cáo Nguyễn Xuân H bị Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau khi kiểm tra toàn bộ lời khai của bị cáo, cùng với các tài liệu, chứng cứ khác được đưa ra xem xét tại phiên tòa; đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt Nguyễn Xuân H từ 05 đến 06 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.
Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại ông Kim Bong J số tiền bị cáo đã cướp giật.
Bị cáo không tranh luận.
Trong phần nói lời sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về gia đình, hòa nhập xã hội, làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay: bị cáo đã khai nhận toàn bộ những hành vi phạm tội do bị cáo gây ra như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: bản tự khai, bản tường trình, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can ... nên đã có đủ căn cứ xác định: Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 01/3/2023 tại trước số 192 Ngô Gia T, Phường F, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Xuân H đã có hành vi điều khiển xe Future màu đen, biển số 5981-703.xx cướp giật 01 túi xách bên trong có 800 USD (Đô la Mỹ) và 11.000.000 VNĐ của ông Kim Bong J (Quốc tịch Hàn Quốc). Mặc dù ông Kim Bong J trình bày bị cướp giật túi xách bên trong có 3000 USD nhưng do không có chứng cứ khác để chứng minh nên chỉ có cơ sở buộc H phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số tiền 800 USD và 11.000.000 đồng như bị cáo đã khai nhận.
Với các hành vi như trên, xét đã có cơ sở để tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H phạm tội “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” theo các điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự; bị cáo có tiền án về tội cướp giật tài sản chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm nguy hiểm” nên bị cáo còn phải chịu thêm tình tiết định khung tăng nặng theo điểm i khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Cáo trạng đã truy tố và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
- Hành vi phạm tội do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo đã bị kết án chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội nên cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung đối với xã hội.
Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xét có thể áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại là ông Kim Bong J số tiền 800 USD và 11.000.000 đồng, quy đổi theo tỷ giá đồng USD (đô la Mỹ) vào ngày 01/3/2023 (23.550 đồng/USD) tổng là 29.840.000 đồng.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt Nguyễn Xuân H 05 (năm) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 08/8/2023.
Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Buộc bị cáo bồi thường cho ông Kim Bong J số tiền 29.840.000 (hai mươi chín triệu tám trăm bốn mươi ngàn) đồng. Thi hành một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Xuân H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm, 1.492.000 (một triệu bốn trăm chín mươi hai ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên |
Bản án số 311/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cướp giật tài sản
- Số bản án: 311/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân H Cướp giật tài sản
