TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 311/2024/HC-PT Ngày: 19/4/2024 V/v: Khiếu kiện QĐHC, HVHC về QLNN trong lĩnh vực đất đai, thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ, GPMB, tái định cư. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn
Các Thẩm phán: 1/ Bà Nguyễn Thị Ngọc Hoa
2/ Ông Ngô Đức Thọ
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao
tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đức, Kiểm sát viên cao
cấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Trong các ngày 16 và 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hành chính phúc thẩm, thụ lý số 1155/2023/TLPT-HC ngày 27/12/2023, về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai, thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư”, giữa các bên đương sự:
Người khởi kiện: Bà Ngô Kim P, sinh năm 1960; Địa chỉ: Tổ A, khu phố H, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Có mặt). Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trung N, sinh năm 1954; Địa chỉ: Tổ A, khu phố H, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).
Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang; Địa chỉ: D đường C, khu phố B, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Người đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Quang H, Chủ tịch. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Lê Quốc T, Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố P (Có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt). Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện: Ông Trần Quang L, Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố P (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Trung N, sinh năm 1954; Địa chỉ: tổ A, khu phố H, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (Có mặt).
- Vườn Quốc gia P1; Địa chỉ: Ấp X, xã B, thành phô P, tỉnh Kiên Giang; Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn T1, Giám đốc (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người kháng cáo: Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn và lời khai của người khởi kiện bà Ngô Kim P trình bày:
Bà Ngô Kim P là người sử dụng diện tích gần 9.000m² tọa lạc tại mặt biển núi Ông Q thuộc khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, đất có nguồn gốc do ông Ngô Thành L1 (cha bà P) khai khẩn được chính quyền địa phương cho phép sử dụng từ năm 1976, trên đất có trồng cây ăn trái và hoa màu.
Năm 1985, ông L1 chết, bà P (con ông L1) tiếp tục quản lý, sử dụng ổn định không có tranh chấp. Năm 2006 diện tích đất này được quy hoạch cho dự án Đ, năm 2009 các cơ quan của huyện (nay là thành phô) P, chủ đầu tư và xã (nay là phường) An Thới xét đủ điều kiện bồi thường 100% trị giá 1,7tỷ đồng/8.975,4m². Đến 2010, do chủ đầu tư của dự án Đ thiếu khả năng về tài chính, nên dự án đình chỉ không thực hiện được.
Năm 2013, Ủy ban nhân dân tỉnh K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BL609257 ngày 06/3/2013 cho Rừng phòng hộ P2 chồng lên diện tích đất của bà P mà không có quyết định thu hồi đất.
Năm 2016, UBND thành phố P thu hồi đất để thực hiện dự án Cáp treo A - H, trong đó: Thu hồi diện tích đất 7.239,2m² (nằm ngoài ranh rừng phòng hộ) được bồi thường chi trả lần 1 đối với diện tích đất 6.604,7m², chi trả lần 2 đối với diện tích đất 634,5m².
Diện tích đất còn lại 1.723,9m² có vị trí phía sau hậu (nằm trong ranh rừng phòng hộ) có cùng nguồn gốc sử dụng đất năm 1976, thì UBND thành phố P không xét nguồn gốc đất để bồi thường mà cho rằng thuộc đất của rừng phòng hộ để áp giá hỗ trợ 40% theo giá trị đất nông nghiệp là không đúng quy định của Luật Đất đai. Theo đó, bà P có đơn khiếu nại đến UBND thành phố P và được thụ lý tại Thông báo số 918/TB-UBND ngày 09/9/2021, nhưng không được giải quyết khiếu nại, nên bà P đã rút đơn khiếu nại và khởi kiện tại Tòa án.
Bà P cho rằng, diện tích đất 1.723,9m² đủ điều kiện được bồi thường, hỗ trợ, nhưng UBND thành phố P không ban hành quyết định thu hồi đất, quyết định bồi thường, hỗ trợ mà ban hành quyết định bổ sung hỗ trợ về đất đai, cây trồng là không đúng.
Bà khởi kiện yêu cầu buộc UBND thành phố P ban hành quyết định thu hồi đất và quyết định bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích đất 1.723,9m² cho bà P theo đúng quy định của pháp luật về đất đai và yêu cầu hủy Quyết định số 322/QĐ-UBND ngày 20/01/2021 của UBND thành phố P về việc bổ sung hỗ trợ về đất đai, cây trồng đối với bà P.
Theo Văn bản và lời khai của phía ngưòi bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố P trình bày:
Nguồn gốc đất diện tích 8.963,1m² (7.239,2m² + 1.723,9m²) tại khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, trong đó: Đối với diện tích đất 7.239,2m² có nguồn gốc do ông Ngô Thành L1 (là cha của bà P) khai hoang trước năm 1976 mục đích canh tác nông nghiệp trồng cây ăn trái, hoa màu, đến năm 1987 ông L1 cho lại con là bà Ngô Kim P sử dụng ổn định cho đến khi quy hoạch dự án đã được UBND thành phố P ban hành quyết định thu hồi đất và quyết định bồi thường, hỗ trợ cho bà P đầy đủ theo quy định của pháp luật.
Đối với diện tích 1.723,9m² tại khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Trước năm 2012, đất do rừng phòng hộ quản lý, năm 2012 ông Nguyễn Trung N (chồng của bà P) vào tác động sử dụng trồng tràm bông vàng trên đất cho đến khi quy hoạch dự án.
Ngày 20/8/2015, UBND tỉnh K ban hành quyết định số 1773/QĐ- UBND về việc phê duyệt Nhiệm vụ quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 dự án Cáp treo và Quần thể vui chơi giải trí biển H - P tại thị trấn A và xã H, huyện P, tỉnh Kiên Giang quy mô 395,298ha - phần: Quy hoạch tổng thể mặt bằng sử dụng đất và kiến trúc cảnh quan.
Ngày 21/8/2015, UBND tỉnh K ban hành quyết định số 1789/QĐ- UBND về việc phê duyệt đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 dự án quần thể vui chơi giải trí biển H - P tại thị trấn A và xã H, huyện P, tỉnh Kiên Giang quy mô 395,298ha - phần: Quy hoạch tổng thể mặt bằng sử dụng đất và kiến trúc cảnh quan.
Ngày 09/9/2015, Phòng Quản lý đô thị công bố quy hoạch tại Biên bản số 19/BB-QLĐT về việc công bố đồ án quy hoạch chi tiết xây dụng tỷ lệ 1/500 dự án Quần thể vui chơi giải trí biển H - P tại thị trấn A và xã H, huyện P, tỉnh Kiên
Giang quy mô 395,298ha - phần: Quy hoạch tổng thể mặt bằng sử dụng đất và kiến trúc cảnh quan.
Ngày 23/12/2016, UBND huyện P ra quyết định số 7578/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án Cáp treo và quần thể vui chơi giải trí biển H - P tại thị trấn A và xã H, huyện P, tỉnh Kiên Giang. Tại phương án bà Ngô Kim P bị thu hồi với diện tích 7.239,6m² và đã được bồi thường theo quy định pháp luật (bà P đã nhận tiền bồi thường).
Ngày 19/8/2020, tại Biên bản xét duyệt nguồn gốc sử dụng đất số 47/BB-HĐ của Hội đồng tư vấn đất đai thị trấn A phối hợp cùng với các ngành chức năng có liên quan, tiến hành xét duyệt nguồn gốc sử dụng đất cho từng hộ dân có đất nằm trong khu quy hoạch dự án Cáp treo và quần thể vui chơi giải trí biển H - P tại thị trấn A và xã H, huyện P (khu vực có diện tích 18,6 ha nằm trong ranh rừng phòng hộ theo Quy hoạch 633/QĐ-TTg đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ BL 609257 cấp ngày 06/3/2013).
Trong đó có diện tích 1.394,1m² của bà Ngô Kim P, nguồn gốc diện tích trên trước năm 2012 là đất rừng phòng hộ theo Quyết định 2163/QĐ-UBND ngày 18/6/1998 giao cho Ban quản lý rừng phòng hộ quản lý, năm 2012 ông Nguyễn Trung N (là chồng của bà P) vào tác động sử dụng trồng tràm bông vàng trên đất cho đến khi quy hoạch dự án, năm 2013 UBND tỉnh K cấp đổi giấy chứng nhận QSDĐ số BL 609257 cấp ngày 06/3/2013 cho Ban P2 (nay là Vườn Quốc gia P).
Ngày 23/9/2020, Hội đồng tư vấn đất đai thị trấn A có Công văn số 212/UBND-HDTV về việc điều chỉnh một số nội dung trong các biên bản xét duyệt nguồn gốc sử dụng đất. Trong đó có Biên bản số 47 ngày 19/8/2020 của Hội đồng tư vấn đất đai có trường hợp của bà Ngô Kim P có diện tích 1.394,1m² điều chỉnh lại 1.723,9m².
Ngày 29/12/2020, UBND thành phố P ban hành Quyết định số 7208/QĐ- UBND về việc phê duyệt phương án bổ sung bồi thường, hỗ trợ về đất đai, cây trồng vật kiến trúc và chi phí di chuyển của dự án Cáp treo và Quần thể vui chơi giải trí biển H - P tại thị trấn A và xã H, huyện P, tỉnh Kiên Giang.
Ngày 20/01/2021, UBND thành phố P ban hành Quyết định số 322/QĐ- UBND về việc hỗ trợ đất đai và cây trồng đối với diện tích 1.723,9m² cho bà Ngô Kim P với tổng số tiền là 194.420.000đồng. Trong đó, hỗ trợ về đất đai 177.541.000đồng, hỗ trợ về cây trồng 16.879.000đồng. Bà P đã nhận tiền và bàn giao mặt bằng ngày 27/01/2021.
Việc bà Ngô Kim P yêu cầu buộc UBND thành phố P ban hành quyết định thu hồi đất và quyết định bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích đất 1.723,9m² toạ lạc tại khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang là không có cơ sở.
Vì diện tích đất trên năm 2012 ông Nguyễn Trung N (là chồng bà P) vào tác động trồng tràm bông vàng cho đến khi quy hoạch, diện tích đất 1.723,9m² đã được giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ban P2 theo Quyết định số 2163/QĐ-UBND ngày 16/6/1998.
Đến ngày 06/3/2013, UBND tỉnh K cấp giấy chúng nhận quyền sử dụng đất số BL 609257 cho Ban P2 thì diện tích 1.723,9m² đất thuộc thửa đất số tại khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang vẫn nằm trong ranh rừng phòng hộ P, (có Công văn số 450/VQG-PQLBV&PTR của Vườn Quốc gia xác định kèm theo) và đã được UBND tỉnh ban hành Quyết định số 327/QĐ-UBND ngày 08/02/2018 về việc thu hồi đất, giao đất tại thị trấn A, huyện P, tỉnh Kiên Giang cho Ban P2, để quản lý thực hiện chức năng nhiệm vụ. Thu hồi diện tích 168.450,6m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác số BL 609257 do UBND tỉnh K ký ngày 06/3/2013.
Tuy nhiên, xét về quá trình sử dụng diện tích 1.723,9m² của bà P từ năm 2012 đến khi phê duyệt phương án thì không đủ điều kiện được bồi thường quyền sử dụng đất theo Điều 82 Luật Đất đai 2013, nhưng thuộc trường hợp được xem xét hỗ trợ bằng 40% giá trị quyền sử dụng đất, hỗ trợ theo điểm c, khoản 10, Điều 1 Quyết định số 18/2018/QĐ-UBND ngày 06/7/2018 của UBND tỉnh K về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, về đất đai hỗ trợ theo Quyết định 03/2020/QĐ-UBND ngày 13/01/2020 tại phụ lục số 12 Bảng giá đất huyện P; về cây trồng giá bồi thường theo Quyết định số 730/QĐ-UBND ngày 23/3/2020 của UBND tỉnh K.
Từ những căn cứ trên, UBND thành phố P khẳng định việc ban hành Quyết định số 322/QĐ-UBND ngày 20/01/2021 của UBND thành phố P về việc bổ sung hỗ trợ về đất đai cây trồng đối với diện tích 1.723,9m² toạ lạc tại khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang cho bà Ngô Kim P là phù hợp quy định của pháp luật và không ban hành quyết định thu hồi đất đối với bà Ngô Kim P là đúng quy định pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang bác nội dung yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Kim P.
Theo Văn bản và lời khai của người có quyền, nghĩa vụ liên quan Vườn Quốc gia P trình bày:
Bà Ngô Kim P khởi kiện UBND thành phố P về hành vi không ban hành quyết định thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất, không thuộc thẩm quyền xem xét, ý kiến của Vườn quốc gia P. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang liên hệ cơ quan có thẩm quyền và xét xử theo quy định của pháp luật.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 160/2023/HC-ST ngày 08/9/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Kiên Giang, đã tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Kim P.
- Hủy Quyết định số 322/QĐ-UBND ngày 20 tháng 01 năm 2021 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc bổ sung hỗ trợ về đất đai và cây trồng cho bà Ngô Kim P.
- Buộc Ủy ban nhân dân thành phố P thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật, trong việc quyết định thu hồi đất, quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với thửa đất 221, diện tích đất 1.732,9m² tọa lạc tại khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang để thực hiện Dự án Cáp treo và Quần thể vui chơi giải trí biển H - P tại phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang cho bà Ngô Kim P. Được trừ lại khoản tiền hỗ trợ về đất đai và cây trồng 194.420.000đồng bà Ngô Kim P đã nhận tại Quyết định số 322/QĐ-UBND ngày 20 tháng 01 năm 2021 của Ủy ban nhân dân thành phố P.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến án phí, lệ phí Toà án, thời hạn và quyền kháng cáo theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 12/4/2024 Ủy ban nhân dân thành phố P làm đơn kháng cáo, nêu lý do: Bản án sơ thẩm không thỏa đáng, gây thiệt hại quyền lợi của phía Ủy ban, đề nghị phúc xử lại, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Phía người khởi kiện vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị không chấp nhận kháng cáo của UBND thành phố P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Phía người bị kiện vẫn giữ yêu cầu kháng cáo, đề nghị bác khởi kiện của bà P.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm cho rằng, quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Những người tham gia phiên tòa cũng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo luật định. Về nội dung giải quyết kháng cáo: Bản sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, xem xét lời khai, xem xét các biên bản thẩm định tại chỗ và quá trình xác minh của cơ quan quản lý hành chính nhà nước ở địa phương, từ đó chấp nhận
yêu cầu khởi kiện là có căn cứ, nên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang làm trong hạn luật định nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.
[2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo:
[2.1] Thửa đất số 221 có diện tích 1.732,9m² theo kết quả xét duyệt nguồn gốc đất tại Biên bản số 47/BB-HD ngày 19/8/2020 thể hiện trước năm 2012 là đất rừng phòng hộ theo Quyết định số 2163/QĐ-UBND ngày 18/6/1998 của UBND tỉnh K về việc giao đất, cấp giấy cho Ban quản lý rừng phòng hộ quản lý, phía U cho rằng năm 2012 ông Nguyễn Trung N (chồng bà P) vào tác động sử dụng trồng tràm bông vàng trên đất cho đến khi quy hoạch dự án, năm 2013 UBND tỉnh K cấp đổi giấy CNQSDĐ cho Ban P2 (nay là Vườn Quốc gia P).
[2.2] Theo khoản 4 Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, như sau:
Trường hợp không có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 2 Điều này thì phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã về thời điểm bắt đầu sử dụng đất và mục đích sử dụng đất trên cơ sở thu thập ý kiến của những người từng cư trú cùng thời điểm bắt đầu sử dụng đất của người có yêu cầu xác nhận trong khu dân cư (thôn, làng, ấp ..., tổ dân phố) nơi có đất.
[2.3] Theo Biên bản xét nguồn gốc đất thì không có thành phần là những người từng cư trú cùng thời điểm sử dụng đất của bà P, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện việc xác minh và lấy lời khai của ông Dương Đình H1, sinh năm 1963, ông Vũ Xuân Đ, sinh năm 1967, ông Phạm Văn V, sinh năm 1961 là những người sống lâu năm tại khu vực đất này xác nhận, đất bà P sử dụng là của ông Ngô Thành L1 khai khẩn sử dụng từ năm 1976 có trồng cây sau đó giao lại cho bà P là con tiếp sử dụng có trồng Tràm, đất không tranh chấp, phần đất dính rừng liền một thửa với diện tích đã được bồi thường, sử dụng ổn định như nhau.
Các lời khai này phù hợp với chứng cứ do bà P cung cấp, thể hiện tại Tờ trình xin xác nhận của bà Phan Thị M (mẹ bà P) ngày 17/2/2007, đơn xin khẩn đất của ông Lê Tấn L2 ngày 08/6/1976 được Ủy ban nhân dân cách mạng huyện P xác nhận ngày 17/6/1976 thể hiện giáp ranh đất ông L2 xin khai khẩn là ông Ngô Thành L1 (cha bà P) đang sử dụng đất, đến ngày 13/5/2004 bà Phạm Thị L3 (vợ
ông L2) được cấp giấy CNQSD đất cũng thể hiện ranh đất này.
[2.4] Về tài sản trên đất, theo Bảng tổng hợp ban hành kèm theo Quyết định số 322/QĐ-UBND ngày 20/01/2021 của UBND thành phố P thì trên đất có Tràm bông vàng loại A - 67 cây; Tràm bông vàng loại B - 85 cây; Đ - 6 cây, thể hiện bà P sử dụng 1.732,9m² đất này được xác định thời điểm sử dụng đất trước ngày UBND tỉnh K có Quyết định số 2163/QĐ-UBND ngày 18/6/1998 về việc giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ban P2 (nay là Vườn Quốc gia P).
[2.5] Thực tế hiện trạng sử dụng đất của bà P được pháp luật quy định tại khoản 4 Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013, nhưng UBND thành phố P đã không trực tiếp xác minh, thu thập chứng cứ về nguồn gốc đất, thời điểm sử dụng đất, là những người cao tuổi trực tiếp sống lâu năm tại khu vực đất này mà chỉ căn cứ sơ đồ ranh rừng phòng hộ để cho rằng đất thuộc rừng phòng hộ quản lý, sử dụng, rồi cho rằng bà P vào tác động năm 2012 là chưa phù hợp với thực tế và không đúng quy định pháp luật.
Diện tích 1.732,9m² của bà P chưa có quyết định thu hồi đất nhưng lại có Quyết định bổ sung hỗ trợ 40% là chưa bảo đảm quyền lợi của người có đất bị thu hồi.
Toà án cấp sơ thẩm đã chấp nhận khởi kiện của bà P là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[2.6] Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của phía Ủy ban nhân dân thành phố P, chấp nhận khởi kiện của bà P là phù hợp.
[2.7] Tại phiên tòa phúc thẩm, phía người bị kiện kháng cáo nhưng cũng không đưa ra được những tài liệu, chứng cứ gì mới để chứng minh yêu cầu kháng cáo của mình, do đó không có cơ sở để chấp nhận.
[3] Về án phí hành chính phúc thẩm: Người bị kiện kháng cáo không được chấp nhận, nên phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo luật định.
[4] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
Bởi các lẽ trên,
Căn cứ Điều 241 Luật tố tụng Hành chính.
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của UBND thành phố P, tỉnh Kiên Giang. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Áp dụng Điều 30, Điều 32, Điều 116, Điều 158, Điều 164, Điều 193, Điều 194 Luật tố tụng Hành chính; Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 47/2014/NĐ- CP của Chính phủ, hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Kim P.
Hủy Quyết định số 322/QĐ-UBND ngày 20 tháng 01 năm 2021 của Ủy ban nhân dân thành phố P về việc bổ sung hỗ trợ về đất đai và cây trồng cho bà Ngô Kim P.
Buộc Ủy ban nhân dân thành phố P thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật, trong việc quyết định thu hồi đất, quyết định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với thửa đất 221, diện tích đất 1.732,9m² tọa lạc tại khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang để thực hiện Dự án Cáp treo và Quần thể vui chơi giải trí biển H - P tại phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang cho bà Ngô Kim P. Được trừ lại khoản tiền hỗ trợ về đất đai và cây trồng 194.420.000đồng bà Ngô Kim P đã nhận tại Quyết định số 322/QĐ-UBND ngày 20 tháng 01 năm 2021 của Ủy ban nhân dân thành phố P.
- Án phí hành chính phúc thẩm: Ủy ban nhân dân thành phố P chịu số tiền 300.000đồng, được khấu trừ số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp theo Biên lai thu số 0004523 ngày 17/11/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang. Như vậy, Ủy ban nhân dân thành phố P đã nộp xong án phí hành chính phúc thẩm.
- Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LÊ HOÀNG TẤN |
Bản án số 311/2024/HC-PT ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai, thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư
- Số bản án: 311/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính về quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai, thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/04/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
