Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 3102/2024/DS-ST

Ngày: 30-9-2024

V/v tranh chấp hợp đồng

sử dụng thẻ tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Thế Đông

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lý Văn Huệ

Bà Lê Thị Kim Ngàn

- Thư ký phiên tòa: Bà Bế Thị Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 136/2024/TLST-DS ngày 29 tháng 02 năm 2024 về “tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15881/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16940/2024/QÐST-DS ngày 12 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; địa chỉ: Lầu H, 2 N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lã Ngọc M, là người đại diện theo ủy quyền - Giấy ủy quyền ngày 24/12/2023. (xin vắng mặt)

- Bị đơn: Ông Võ Văn H, sinh năm 1993; địa chỉ: Số C đường T, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và Bản tự khai, nguyên đơn trình bày: Ngày 04/7/2022, ông Võ Văn H ký Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng- các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng) với Ngân hàng TMCP S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng). Căn cứ thu nhập của ông H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng sử dụng quốc tế với hạn mức 50.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp thẻ đến khi khởi kiện, ông H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 100.655.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, ông H đã thanh toán cho Ngân hàng nhiều lần với tổng số tiền 56.241.000 đồng. Tuy nhiên, trong quá trình giao dịch, ông H có chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên số tiền mà ông H thanh toán từng đợt được áp dụng theo Điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, cụ thể việc thanh toán sẽ được Ngân hàng áp dụng theo thứ tự như sau:

  • + Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước;
  • + Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước;
  • + Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước;
  • + Các khoản phí và/ hoặc lãi trong kỳ;
  • + Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ;
  • + Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở trả nợ ông H không có thiện chí trả đầy đủ các khoản nợ, vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ 57.803.320 đồng sang thành nợ quá hạn ngày 06/01/2023 theo Điều 24 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông H thanh toán số tiền nợ gốc 57.808.320 đồng, tiền lãi quá hạn tạm tính đến ngày 20/12/2023 là 25.037.260 đồng, tổng cộng 82.845.580 đồng và có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh từ ngày 21/12/2023 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Ngày 23/8/2024, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lã Ngọc M có bản khai trình bày: Lãi suất quá hạn = 150% x Lãi suất trong hạn. Ngân hàng xác định lãi suất trong hạn = 2,48%/tháng. Tổng yêu cầu tạm tính đến ngày 23/8/2024 là 100.565.360 đồng, trong đó nợ gốc là 57.808.320 đồng và nợ lãi là 42.757.040 đồng. Cùng ngày, ông M có đơn xin xét xử vắng mặt.

Ngày 29/9/2024, ông M có bản tự khai xác định ngày 06/01/2023, Ngân hàng chuyển nợ toàn bộ dư nợ gốc là 57.808.320 đồng. Ngân hàng yêu cầu tính lãi quá hạn trên dư nợ gốc 57.808.320 đồng từ ngày 06/01/2023 đến khi ông H trả hết nợ theo quy định của pháp luật.

Bị đơn là ông Võ Văn H không có lời khai tại Tòa án, vắng mặt khi Tòa án triệu tập làm việc, hòa giải và xét xử.

Tòa án không tiến hành hòa giải được do nguyên đơn yêu cầu không tiến hành hòa giải, bị đơn vắng mặt liên tiếp hai lần mặc dù đã được thông báo, triệu tập hợp lệ. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về nợ gốc và tiền lãi theo quy định tại hợp đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền: Theo Đơn khởi kiện Ngân hàng khởi kiện yêu cầu tòa án buộc ông Võ Văn H trả nợ gốc và lãi theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Căn cứ Kết quả xác minh ngày 02/8/2024 của Công an phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thì ông Võ Văn H có đăng ký thường trú tại Số C T, phường C, Quận A nhưng thường xuyên vắng mặt tại địa phương, không rõ đi đâu. Xét ông H thường xuyên đi khỏi nơi cư trú ghi tại hợp đồng tín dụng mà không thông báo địa chỉ mới cho nguyên đơn và chính quyền địa phương nơi cư trú là trường hợp cố tình giấu địa chỉ nên Tòa án thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung. Xét đây là tranh chấp hợp đồng, cụ thể là hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục: Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng ông H vắng mặt tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Xét yêu cầu của đương sự: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn là ông H thanh toán số tiền nợ gốc 57.808.320 đồng và tiền lãi chậm trả cho đến khi trả hết nợ. Ông H không có lời khai tại Tòa án, không cung cấp bất kỳ chứng cứ, tài liệu phản bác yêu cầu của nguyên đơn, vắng mặt khi được Tòa án triệu tập làm việc, hòa giải và tại phiên tòa mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Do đó, Tòa án căn cứ vào yêu cầu, các tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp để giải quyết vụ án.

[4] Căn cứ lời khai của nguyên đơn, Tóm tắt sao kê và các chứng từ do nguyên đơn giao nộp thể hiện ông H đã giao kết hợp đồng tín dụng với Ngân hàng thông qua Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng (Áp dụng cho chủ thẻ là Khách hàng cá nhân) ngày 04/7/2022 đề nghị mở thẻ tín dụng quốc tế Visa Platinum C; không thể hiện lãi suất, nguyên đơn xác định là 2,48%/tháng; kèm theo là Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân có hiệu lực từ ngày 29/11/2019. Sau đó, Ngân hàng đơn phương ban hành Quyết định số 2661/2022/QĐ-TTT ngày 28/10/2022 về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ S1 phát hành tại Việt Nam; tại mục 2.11 Biểu phí sản dịch vụ thẻ tín dụng S1 ban hành kèm theo Quyết định số 2661/2022/QĐ-TTT thì từ ngày 01/11/2022, nâng mức lãi suất tín dụng quốc tế hạng cao cấp từ 28,8%/năm (2,4%/tháng) lên mức 29,8%/năm (2,48%/tháng). Xét nội dung quyết định phù hợp với các quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng mà ông H đã ký nên được xác định là chứng cứ để giải quyết vụ án.

[5] Từ các căn cứ vừa nêu, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Ông H đã giao kết hợp đồng tín dụng ngày 04/7/2022 với Ngân hàng, hạn mức tín dụng là 50.000.000 đồng, lãi suất 28,8%/năm, tăng lên 29,8%/năm từ ngày 01/11/2022, mục đích tiêu dùng cá nhân. Thực hiện hợp đồng, ông H đã thực hiện các giao dịch bằng thẻ tín dụng với số tiền cộng dồn 100.655.000 đồng từ khi được cấp thẻ tín dụng; ông H đã thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 56.241.000 đồng. Số tiền thanh toán từng đợt được trừ vào tiền lãi và phí trước, sau đó mới được trừ vào nợ gốc theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng nên tính đến ngày 05/01/2023, ông H chưa thanh

toán cho Ngân hàng số tiền dư nợ gốc là 57.808.320 đồng. Từ ngày 05/01/2023 đến nay, ông H không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định ông H có nghĩa vụ thanh toán gốc 57.808.320 đồng cho Ngân hàng.

[6] Về thời hạn tính lãi: Xét ông H nhiều lần vi phạm thời hạn thanh toán theo thỏa thuận tại hợp đồng từ ngày 05/10/2022 nên đến ngày 06/01/2023 nguyên đơn chấm dứt quyền sử dụng thẻ, chuyển nợ quá hạn là phù hợp với quy định tại Hợp đồng.

[7] Về lãi suất: Xét mức lãi suất trong hạn tại mục 2.11 Biểu phí sản dịch vụ thẻ tín dụng S1 ban hành kèm theo Quyết định số 2661/2022/QĐ-TTT là 29,8%/năm từ ngày 01/11/2022; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn là phù hợp với thỏa thuận tại Hợp đồng và quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên được chấp nhận. Do đó, mức lãi suất quá hạn làm căn cứ tính lãi là 29,8%/năm x 150% = 44,7%/năm.

[8] Về nợ lãi quá hạn: Căn cứ Điều 22, 23 bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng và quy định tại khoản 2 Điều 8 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Điều 5 Thông tư 14/2017/TT-NHNN và khoản 4 Điều 13 Thông tư Số 39/2016/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước. thì tiền nợ lãi quá hạn từ ngày 06/01/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 30/9/2024) được tính như sau: Tiền lãi trên nợ gốc quá hạn = Nợ gốc quá hạn x Lãi suất quá hạn x Số ngày = 57.808.320 đồng x 44,7%/năm/365 ngày x 634 ngày = 44.884.280 đồng.

[9] Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả nợ gốc 57.808.320 đồng và tiền lãi quá hạn tính từ ngày 06/01/2023 đến khi trả hết nợ là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Như vậy, tính đến ngày xét xử sơ thẩm thì ông H phải trả cho Ngân hàng các khoản sau: Nợ gốc là 57.808.320 đồng và tiền lãi quá hạn là 44.884.280, tổng cộng 102.692.600 đồng. Từ ngày 01/10/2024 cho đến khi trả hết nợ, ông H còn phải tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng theo mức lãi suất quá hạn quy định tại hợp đồng tín dụng.

[10] Về án phí: Vì toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 5.134.630 đồng.

[11] Các kiến nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung của vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 22, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 5 Thông tư 14/2017/TT-NHNN và khoản 4 Điều 13 Thông tư Số 39/2016/TT-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.

    Buộc ông Võ Văn H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ gốc là 57.808.320 đồng và tiền lãi quá hạn là 44.884.280, tổng cộng 102.692.600 đồng.

    Từ ngày 01/10/2024 cho đến khi trả hết nợ, ông H còn có nghĩa vụ trả lãi cho Ngân hàng TMCP S phát sinh trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất quá hạn quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp ngày 04/7/2022 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S.

  2. Về án phí:

    Ông H phải chịu 5.134.630 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Trả lại cho Ngân hàng TMCP S 2.071.140 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0045392 ngày 29/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1.

  3. Ngân hàng TMCP S, ông H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Q.1;
  • - THADS Q.1;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thế Đông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 3102/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng

  • Số bản án: 3102/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: thẻ tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger