Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN CÁI BÈ

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 310/2024/DS-ST

Ngày: 30/8/2024

V/v tranh chấp: “Yêu cầu tháo dỡ, di dời vật kiến trúc và cây trồng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhịn
  • Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Huỳnh Văn Dũng
  • 2. Ông Phạm Trung Thành
  • Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Công Thúy An - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Võ Liên Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 519/2020/TLST-DS ngày 22/12/2020 về việc tranh chấp “Yêu cầu tháo dỡ, di dời vật kiến trúc và cây trồng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 158/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

➤ Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn D, sinh năm: 1966.

Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

➤ Bị đơn:

  1. Nguyễn Thị H, sinh năm: 1955. (chết năm 2022).
  2. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1984.
  3. Anh Nguyễn Văn T1, sinh 1982.
  4. Cùng địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

  5. Chị Nguyễn Thị Ngọc D1, sinh năm: 1988.
  6. Địa chỉ: Tổ F, khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.

  7. Anh Nguyễn Hồng N, sinh năm: 1987.
  8. Địa chỉ: Số nhà A, hẻm B, đường số B - T, tổ A, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.

  9. Chị Nguyễn Thị S, sinh năm: 1976.
  10. Địa chỉ: Ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

  11. Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1978.
  12. Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  13. Chị Nguyễn Thị Thanh T3, sinh năm: 1986.
  14. Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

➤ Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà H:

  1. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm: 1984.
  2. Anh Nguyễn Văn T1, sinh 1982.
  3. Cùng địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

  4. Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm: 1978.
  5. Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

  6. Chị Nguyễn Thị S, sinh năm: 1976.
  7. Địa chỉ: Ấp C, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

  8. Anh Nguyễn Hồng N, sinh năm: 1987.
  9. Địa chỉ: Số nhà A, hẻm B, đường số B - T, tổ A, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh.

  10. Chị Nguyễn Thị Ngọc D1, sinh năm: 1988.
  11. Địa chỉ: Tổ F, khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.

  12. Chị Nguyễn Thị Thanh T3, sinh năm: 1986.
  13. Địa chỉ: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

➤ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thị C, sinh năm: 1966.
  2. Chị Nguyễn Thị Nhựt T4, sinh năm: 1990.
  3. Cháu Lê Nguyễn Thanh N1, sinh ngày: 03/11/2011.
  4. Cháu Lê Nguyễn Thanh H1, sinh ngày: 27/7/2013.
  5. Cùng địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

    Người đại diện theo pháp luật của cháu N1, cháu H1: Chị Nguyễn Thị Nhựt T4, sinh năm 1990.

    Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

( Ông D, bà C có mặt tại phiên tòa. Bị đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng bà H và chị T4 vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện đề ngày 11/11/2020 các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Nguyễn Văn D trình bày:

Theo Bản án số 200/2018/DS-ST ngày 02/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang ( Bản án số 200/2018/DS-ST ngày 02/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang được viết tắt là ( Bản án số 200/2018)) đã có hiệu lực pháp luật công nhận phần đất diện tích 27,04m² là thuộc quyền sử dụng đất của ông tại thửa số 79, tờ bản đồ số 39, diện tích 1.174,4m². Tuy nhiên trên phần đất diện tích 27,04m² theo bản án đã công nhận quyền sử dụng đất cho ông thì phía ông S1 có 01 máy che lợp lá, tôn và một số cây trồng trên đất, nhưng bản án chưa giải quyết, nên không thi hành án giao đất theo bản án cho ông. Số cây trồng và máy che trên hiện do các bị đơn đang quản lý, sử dụng.

Nay ông yêu cầu các bị đơn tự tháo dỡ di dời máy che lợp lá, tôn trên phần đất diện tích 27,04m² theo bản án. Riêng về cây trồng ông đồng ý trả giá trị theo định giá số tiền là 18.385.000 đồng.

* Theo biên bản lấy lời khai ngày 15/12/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp bị đơn anh Nguyễn Văn T2 đồng thời là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà H trình bày:

Anh không có ý kiến và yêu cầu độc lập trong vụ án, giao toàn quyền quyết định vụ việc cho cha anh là ông Nguyễn Văn S1.

* Các bị đơn và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn khác không cung cấp ý kiến cũng như lời khai đối với việc kiện.

* Tại phiên tòa nguyên đơn vẫn giữ ý kiến, yêu cầu như trên. Các bị đơn và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà H vắng mặt.

* Phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, thư ký trong quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo đúng quy định Bộ luật Tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của đương sự nguyên đơn chấp hành đúng quy định. Riêng bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án.

- Về việc giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nhận thấy:

Nhận thấy, Bản án số 200/2018/DS-ST ngày 02/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xử buộc ông S1 trả lại phần đất lấn chiếm diện tích 27,04 m² cho ông Nguyễn Văn D, nhưng không giải quyết vấn đề cây trồng và vật kiến trúc trên đất nên không thi hành án được nên ông D yêu cầu Tòa án giải quyết buộc các bị đơn di dời công trình trên đất là có cơ sở, đối với những cây trồng trên đất không thể di dời được nên ông D đồng ý hoàn lại giá trị cây trồng theo kết quả định giá cho phía bị đơn là phù hợp với quy định nên chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông D.

Từ những phân tích trên, áp dụng Điều 175, 176 Bộ luật Dân sự đề xuất: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn. Giao các cây trồng trên đất cho ông Nguyễn Văn D quản lý sử dụng, buộc các bị đơn di dời công trình trên đất, ông D hoàn trả giá trị cây trồng cho các bị đơn theo biên bản định giá.

- Yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

- Về việc vắng mặt của đương sự:

Xét thấy các bị đơn và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà H đã được đã được thông báo và triệu tập hợp lệ để xét xử đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt không lý do. Anh T2 là bị đơn đồng thời là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà H, chị T4 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin vắng mặt. Căn cứ quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các bị đơn, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà H và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn kiện tranh chấp vật kiến trúc và cây trồng, đây là các tranh chấp khác về dân sự được quy định tại các khoản 14 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Phần đất tranh chấp tại huyện C, tỉnh Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu tháo dỡ, di dời vật kiến trúc và cây trồng liên quan đến phần đất ranh giới giữa các bất động sản, nên xác định đây là tranh chấp Yêu cầu tháo dỡ, di dời vật kiến trúc và cây trồng trên phần đất ranh giới giữa các bất động sản theo quy định tại các Điều 175 của Bộ luật Dân sự.

[2]. Về nội dung vụ án:

- Ông Nguyễn Văn D có phần đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông tại thửa số 79, tờ bản đồ số 39, diện tích 1.174,4m², phần đất ông liền kề với đất ông Nguyễn Văn S1 thửa số 729, tờ bản đồ số MTC6, diện tích 1.202m². Quá trình sử dụng đất hai bên có tranh chấp phần ranh và theo Bản án số 200/2018 đã có hiệu lực pháp luật công nhận phần đất tranh chấp diện tích 27,04m² là thuộc quyền sử dụng đất của ông D tại thửa số 79, tờ bản đồ số 39, diện tích 1.174,4m². Tuy nhiên trên phần đất diện tích 27,04m² theo bản án đã công nhận quyền sử dụng đất cho ông D phía ông S1 có 01 máy che lợp lá, tôn; 01 đoạn rào lưới B40 và một số cây trồng trên đất, nhưng bản án chưa giải quyết, nên không thi hành án giao đất theo bản án cho ông.

[2.1]. Theo biên bản thẩm định và định giá ngày 27/3/2024 trên phần đất diện tích 27,04m² đã công nhận cho ông D theo bản án số 200/2018 gồm có:

- Cây trồng có giá tổng cộng thành tiền là 18.385.000 đồng gồm: 01 cây Vừng, 01 cây Khế, 01 cây Vú sữa, 01 cây Còng, 05 cây Dừa, 04 cây Mít, 01 cây B.

- Vật kiến trúc có giá thành tiền là 128.960 đồng gồm: mái che lợp tôn, nền đất, gỗ tạp đã bị sập.

[2.2]. Xét thấy, phần đất diện tích 27,04m² đã được công nhận là thuộc quyền sử dụng đất của ông D tại thửa số 79, tờ bản đồ số 39, diện tích 1.174,4m² theo Bản án số 200/2018 đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên trên phần đất diện tích 27,04m² phía ông S1 có một số cây trồng trước khi các bên tranh chấp và giải quyết theo bản án số 200/2018, nếu di dời hoặc đốn bỏ sẽ gây thiệt hại và lãng phí, nên giao cho ông D được quyền sở hữu toàn bộ số cây trồng trên phần đất diện tích 27,04m² và tại phiên tòa ông D đồng ý trả giá trị cây trồng cho cho các bị đơn số tiền theo giá hội đồng định giá là 18.385.000 đồng là hợp lý, hội đồng xét xử ghi nhận.

- Riêng về vật kiến trúc là mái che tôn, nền đất, gỗ tạp đã bị hư, sập nên buộc các bị đơn và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng bà H tự tháo dỡ, di dời hoặc dỡ bỏ.

[2.3] Các bị đơn và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà H đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ việc ông D khởi kiện, nhưng vẫn vắng mặt không lý do, đồng thời cũng không cung cấp ý kiến cũng như lời khai đối với việc kiện xem như không phản đối về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và từ bỏ quyền bảo vệ quyền lợi cho mình theo quy định tại các Điều 70, Điều 72 và Điều 92 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2.4]. Xét chứng cứ và yêu cầu khởi kiện của ông D là có cơ sở, nên chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D. Buộc các bị đơn và người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà H tự tháo dỡ di dời hoặc dỡ bỏ mái che lợp tôn, nền đất, gỗ tạp trên phần đất diện tích 27,04m² đã được công nhận là thuộc quyền sử dụng đất của ông D tại thửa số 79, tờ bản đồ số 39, diện tích 1.174,4m² theo Bản án số 200/2018 đã có hiệu lực pháp luật và giao cho ông D được quyền sở hữu toàn bộ số cây trồng gồm 01 cây Vừng, 01 cây Khế, 01 cây Vú sữa, 01 cây Còng, 05 cây Dừa, 04 cây Mít, 01 cây Bình Bát trên phần đất diện tích 27,04m² và ghi nhận ông D trả giá trị cây trồng cho các bị đơn số tiền 18.385.000 đồng.

[3]. Về chi phí tố tụng: Ông D yêu cầu các bị đơn trả lại ông số tiền tạm ứng chi phí định giá 02 lần tổng cộng số tiền là 4.100.000 đồng. Xét thấy, việc thẩm định, định giá là cần thiết cho việc giải quyết vụ án và trong quá trình giải quyết vụ án ông D có nộp tạm ứng số tiền là 4.100.000 đồng. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông D, nên phía bị đơn phải chịu chi phí thẩm định và buộc các bị đơn trả lại ông D số tiền là 4.100.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4]. Về án phí DS-ST: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn, nên bị đơn phải chụi án phí theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[6]. Xét phát biểu, đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.

[7]. Xét thấy, tại điểm [2.2] của khoản [2] về nội dung vụ án ông D trả giá trị cây trồng cho phía bị đơn số tiền 18.385.000 đồng và tại khoản [3] về chi phí tố tụng các bị đơn phải trả chi phí tố tụng cho ông D số tiền là 4.100.000 đồng, như vậy các bên phải thi hành trả tiền qua lại với nhau.

Tuy nhiên để thuận tiện cho các bên trong việc yêu cầu thi hành án, nên khấu trừ chi phí tố tụng các bị đơn phải trả cho ông D số tiền 4.100.000 đồng vào giá trị cây trồng ông D phải trả các bị đơn số tiền 18.385.000 đồng, do đó ông D trả tiếp cho các bị đơn số tiền giá trị cây trồng là 14.285.000 đồng (18.385.000 đồng trừ số tiền 4.100.000 đồng = 14.285.000 đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào các Điều 174, Điều 175, Điều 176 Bộ luật Dân sự.
  • - Căn cứ khoản 14 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 155, Điều 157, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

* Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ông Nguyễn văn D;

1.1. Buộc anh Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Hồng N, Chị Nguyễn Thị S, Chị Nguyễn Thị Ngọc D1, Chị Nguyễn Thị Thanh T3 tự tháo dỡ, di dời hoặc dỡ bỏ gồm: 01 phần mái che trái nhà mồ kết cấu cột, kèo gỗ tạp, máy tôn ngang 0,4m dài 04m diện tích 1,6m² và 01 phần mái che kết cấu cột, kèo gỗ tạp, máy tôn, nền xi măng trên phần đất theo Bản án số 200/2018/DS-ST ngày 02/11/2018 đã có hiệu lực pháp luật công nhận diện tích 27,04m² là thuộc quyền sử dụng đất của ông D tại thửa số 79, tờ bản đồ số 39, diện tích 1.174,4m².

1.2 Giao cho ông Nguyễn văn D được quyền sở hữu toàn bộ số cây trồng gồm 01 cây Vừng, 01 cây Khế, 01 cây Vú sữa, 01 cây Còng, 05 cây Dừa, 04 cây Mít, 01 cây Bình Bát trên phần đất diện tích 27,04m².

1.3 Ghi nhận ông Nguyễn văn D trả giá trị cây trồng cho anh Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Hồng N, Chị Nguyễn Thị S, Chị Nguyễn Thị Ngọc D1, Chị Nguyễn Thị Thanh T3 số tiền 14.285.000 đồng.

- Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành, người phải thi hành án chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì phải trả thêm tiền lãi theo mức lãi suất chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Anh Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn T1, Nguyễn Văn T2, Nguyễn Hồng N, Chị Nguyễn Thị S, Chị Nguyễn Thị Ngọc D1, Chị Nguyễn Thị Thanh T3 chịu 300.000 đồng.

- Ông Nguyễn Văn D phải chịu 714.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004566 ngày 22/12/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh T, nên ông D phải nộp tiếp tiền án phí là 414.000 đồng.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng bà H được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

* Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện Cái Bè;
  • - Chi cục THADS H. Cái Bè;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

[Signature/Name Placeholder]

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 310/2024/DS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG về yêu cầu tháo dỡ, di dời vật kiến trúc và cây trồng.

  • Số bản án: 310/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu tháo dỡ, di dời vật kiến trúc và cây trồng.
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP ĐẤT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger