Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 310/2024/HNGĐ-ST

Ngày 14/11/2024

“V/v Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Bê

Ông Nguyễn Hồng Phương

- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 14/11/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 05/2024/TLST-HNGĐ ngày 08/01/2024 về “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 225/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/9/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 202/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14/10/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 2001 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: thôn N, xã X, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Bị đơn: Anh Hara K, sinh ngày 07/12/1996 - Quốc tịch: Nhật Bản

Địa chỉ: Shimane-ken, Izumo-shi, K1-cho, S 1048-10 (Nhật Bản) (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai chị Nguyễn Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh H1 Kota được tự do tìm hiểu và được sự đồng ý của 2 bên gia đình tổ chức đám cưới, việc kết hôn trên cơ sở tình cảm đôi bên. Anh chị đã thực hiện việc đăng ký kết hôn tại Nhật Bản ngày 27/3/2023 theo Giấy chứng nhận đăng ký do Thị trưởng thành phố I, tỉnh Shimane Itsuka Toshiyuki xác nhận ngày 07/4/2023. Ngày 10/5/2023 đã được UBND huyện L cấp Trích lục ghi chú kết hôn số 20/TLGCKH. Sau khi kết hôn, chị sang Nhật Bản chung sống cùng anh Hara K. Tuy nhiên do bất đồng ngôn ngữ, không hiểu biết nhau nên cuộc sống vợ chồng không hòa hợp với nhau. Do đó chị đã về Việt Nam sinh sống và vợ chồng không còn liên hệ với nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống với nhau được nữa nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hara K.

- Về con chung, tài sản chung nợ chung: không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Bị đơn là anh Hara K là người quốc tịch Nhật Bản, hiện đang sinh sống tại Nhật Bản. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã thực hiện việc ủy thác tư pháp theo Văn bản số 03/UTTPDS-TA5 ngày 19/01/2024 gửi Bộ Tư pháp về việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng đến nay không nhận được ý kiến của anh Hara K.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, chị H xin vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Anh Hara K vắng mặt không có lý do và không có quan điểm gì trình bày. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 151; khoản 3 Điều 153; Điều 154, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 3 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H. Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Hara K.

Về con chung, tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết. Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải chịu án phí sơ thẩm và chi phí ủy thác tư pháp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Nguyễn Thị H là người Việt Nam hiện đang sinh sống tại tỉnh Bắc Giang có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Hara K. Bị đơn anh Hara K là người quốc tịch Nhật Bản và hiện đang sinh sống tại Nhật Bản. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp quy định khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa chị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã thực hiện việc ủy thác tư pháp tống đạt cho anh H1 Kota theo khoản 1 Điều 474 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 01/10/2024, Bộ tư pháp có văn bản số 3017/BTP-PLQT trả lời cơ quan có thẩm quyền của Nhật Bản đã thực hiện ủy thác tư pháp vào ngày 29/6/2024 bằng phương thức chuyển cho người sống chung cùng đương sự nhưng đến nay không nhận được ý kiến của anh Hara K. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Hara K kết hôn và đăng ký kết hôn tại Nhật Bản ngày 27/3/2023 theo Giấy chứng nhận đăng ký do Thị trưởng thành phố I, tỉnh Shimane Itsuka Toshiyuki xác nhận ngày 07/4/2023. Ngày 10/5/2023 đã được UBND huyện L cấp Trích lục ghi chú kết hôn số 20/TLGCKH. Do đó xác định hôn nhân giữa chị H và anh Hara K là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh Hara K. Xem xét đơn khởi kiện của chị H, HĐXX thấy: chị H xác định hiện nay vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và đến nay không còn liên lạc với anh Hara K. Anh Hara K là người nước ngoài, hiện đang ở nước ngoài vợ chồng xa cách, bất đồng ngôn ngữ, chị H xác định không còn tình cảm. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và anh Hara K đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, xử cho chị H được ly hôn với anh Hara K.

[4]. Về con chung, tài sản chung, nợ chung: chị H xác định không có, không đề nghị nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

[5]. Về án phí và lệ phí ủy thác tư pháp: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147, Điều 151, khoản 3 Điều 153, Điều 154 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm và 200.000 đồng tiền lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.

[6]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 3 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 151; khoản 3 Điều 153; Điều 154, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 3 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Hara K.
  2. Về án phí và lệ phí ủy thác tư pháp: Chị Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm và 200.000 đồng tiền lệ phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài nhưng được trừ vào số tiền 500.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000977 ngày 08/01/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
  3. Về quyền kháng cáo:
    • - Anh Hara K hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày tuyên án.
    • - Chị Nguyễn Thị H cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang
  • - UBND huyện Lạng Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Hải Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 310/2024/HNGĐ-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 310/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huệ - Hara Kota ủy thác tư pháp tống đạt Bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger