|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 310/2024/HS-ST Ngày 31-10-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quang Huy.
2. Ông Trần Xuân Viện.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Ngọc Ánh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Quỳnh Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại Phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 294/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 297/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lưu Ngọc H, sinh ngày 13 tháng 7 năm 1986 tại Thái Nguyên; nơi cư trú: Xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Thanh X, sinh năm 1955; và bà Nông Thị M, sinh năm 1965; có vợ Nguyễn Thị H1, sinh năm 1992; và 02 con; tiền án, tiền sự không. Bị cáo bị bắt ngày 26/7/2024, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T; có mặt.
Người chứng kiến: Ông Nguyễn Sỹ L, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 20 phút ngày 26/7/2024, tổ công tác công an phường T, thành phố T làm nhiệm vụ tuần tra trên địa bàn phường. Khi đi đến khu vực ngách A, ngõ C thuộc tổ E của phường thì phát hiện thấy 01 người đàn ông đi bộ có nhiều biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên đã yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra, người đàn ông khai họ tên là Lưu Ngọc H và tự giác giao nộp cho tổ công tác từ túi áo khoác ngoài bên phải của H 04 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng. Theo H khai nhận đó là ma túy Heroine H2 vừa mua với giá 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) mục đích để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang đối với H2 và niêm phong vật chứng theo quy định.
Ngày 26/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành cân toàn bộ số chất bột màu trắng thu giữ của H2 có khối lượng là: 0,362 gam; lấy mẫu vật gửi giám định ký hiệu L1.
Tại bản Kết luận giám định số 876/KL-KTHS ngày 02/8/2024 của Phòng K, Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong kí hiệu L1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ Luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng là 0,362 gam.
Tại cơ quan điều tra, Lưu Ngọc H khai nhận: Khoảng 06 giờ 40 phút ngày 26/7/2024, H thuê người chở bằng xe máy đi từ nhà của H thuộc xóm L, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đến khu vực tổ E, phường T, thành phố T để mua ma túy sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, H gặp và mua được của 01 người phụ nữ (không rõ lai lịch địa chỉ) 04 gói ma túy Heroine được gói bằng giấy bạc màu trắng với giá 200.000 đồng. Mua xong, H cất số ma túy vừa mua được vào trong túi áo khoác ngoài bên phải đang mặc rồi đi tìm nơi để sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường T phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như nêu trên.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 bì niêm phong ký hiệu L1 bên trong chứa 0,345 gam ma túy loại Heroine và vỏ bao mẫu còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu L2 bên trong có chứa bì niêm phong ban đầu. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
Cáo trạng số 298/CT-VKSTPTN ngày 11 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Lưu Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Lưu Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, điều 51, điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 Bộ luật tố tụng, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt bị cáo Lưu Ngọc H từ 21 đến 24 tháng tù, Phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng. Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật; buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Bị cáo không tranh luận. Nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng tại phiên tòa: Tại phiên tòa vắng mặt của người chứng kiến, việc Tòa án xét xử vắng mặt người chứng kiến không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người chứng kiến theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lưu Ngọc H khai nhận hành vi như Cáo trạng đã nêu, lời nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến cùng vật chứng đã thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, đã đủ cơ sở xác định:
Hồi 08 giờ 20 phút ngày 26/07/2024, tại khu vực tổ E, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Lưu Ngọc H có hành vi tàng trữ 0,362 gam chất ma túy, loại Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an phường T phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo Lưu Ngọc H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuốc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c, Heroine, .... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, trật tự an toàn xã hội ở địa phương.
[5] Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, là người có nhân thân tốt.
[6] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[7] Về hình phạt: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Căn cứ các quy định của Bộ luật hình sự; căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt tù cách ly xã hội đối với bị cáo mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, việc làm ổn định, hiện đang tạm giam, hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo không nhằm mục đích lợi nhuận nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9] Về vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu L1, bên trong chứa chất ma túy Hêroin còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu L2 bên trong có chứa bì niêm phong ban đầu.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[12] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên tại phiên tòa về điều luật áp dụng cũng như các vấn đề khác là phù hợp.
Về nguồn gốc số Heroine bị thu giữ, Lưu Ngọc H khai mua của một người phụ nữ không rõ lai lịch, địa chỉ vào ngày 26/7/2024 tại khu vực tổ E, phường T, thành phố T. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T không có cơ sở làm rõ để xử lý.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự
Tuyên bố: Bị cáo Lưu Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Lưu Ngọc H 21 (hai mươi mốt) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 26/7/2024.
Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu L1, bên trong chứa chất ma túy Hêroin còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu L2 bên trong có chứa bì niêm phong ban đầu. Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 16 ngày 29 tháng 10 năm 2024 giữa Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
- Án phí: Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nước.
- Quyền kháng cáo bản án: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Linh |
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Quang Huy – Trần Xuân Viện |
Phạm Ngọc Linh |
Bản án số 310/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 310/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
