|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 310/2024/DS-PT Ngày: 17-5-2024 V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Chung Văn Kết
Các Thẩm phán: Ông Phạm Công Mười
Bà Nguyễn Thị Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đàm Lê Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Ry - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 833/2023/TLPT-DS ngày 18 tháng 12 năm 2023 “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 2135/2023/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1262/2024/QĐPT-DS ngày 23 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Ngô Thị N, sinh năm 1939; nơi cư trú: B2/17 ấp B, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đinh Trường P, sinh năm 1980; nơi cư trú: 1 P, Phường F, Quận H, TP . (có mặt).
-
Bị đơn: Ông Phạm Văn H, sinh năm 1965; nơi cư trú: B1/17 ấp B, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Tạ Vĩ D, sinh năm 1990; nơi cư trú: C5/27 ấp C, xã B, huyện B, TP . (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị G, UBND huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh - không liên quan đến kháng cáo nên Tòa phúc thẩm không triệu tập.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Ngô Thị N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 20/9/2016 và quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Ngô Thị N do ông Đinh Trường P đại diện ủy quyền trình bày:
Vào khoảng năm 1993 mẹ bà N là bà Phạm Thị N1 thấy ông Phạm Văn H không có nơi cư trú nên cho ông H cất nhà tạm để ở nhờ trên phần đất của gia đình bà. Đến năm 2014, ông H tự ý xây dựng kiên cố nên bà không đồng ý và đã nhiều lần yêu cầu ông H trả lại đất mà mẹ bà là bà N1 đã cho ở nhờ tuy nhiên ông Phạm Văn H không đồng ý trả lại và tiếp tục tự ý xây dựng nhà kiên cố trái phép trên đất của bà N.
Nay bà khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông H trả lại cho bà phần đất có diện tích khoảng 120m2 thuộc thửa 184, tờ bản đồ số 14.TL 02/CT-UB tọa lạc tại B Ấp B, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
* Bị đơn ông Phạm Văn H có ông Tạ Vĩ D là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
Vào khoảng năm 1993, bà Phạm Thị N1 là dì ruột của ông Phạm Văn H đã cho ông H một mảnh đất hiện đang tranh chấp có diện tích khoảng 120m2 (hiện trạng khi cho là đất ao). Sau đó vợ chồng ông H tiến hành sang lấp cất nhà ở từ năm 1993. Năm 2003, vợ chồng ông H sửa chữa lại tường nhà, mái tôn và năm 2015, do căn nhà của ông bà xuống cấp, nên gia đình đã xin Ủy ban nhân dân xã H sửa chữa lại căn nhà như hiện nay. Ông H đã ở nhà đất này từ năm 1993 - trước khi bà Phạm Thị N1 được Ủy ban nhân dân huyện B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này. Nay bà N1 đã mất, giá trị đất lên, nên con bà N là con của bà N1 muốn lấy lại đất. Do đó, ông H không đồng ý trả lại đất theo yêu cầu của nguyên đơn và có đơn phản tố yêu cầu Tòa án hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện B đã cấp cho bà Phạm Thị N1.
Về giá trị căn nhà ở và đất ở tại vị trí tranh chấp hiện gia đình ông H sinh sống thì giá trị xây dựng căn nhà đơn giá hoàn thiện, nội thất để vào ở khoảng 5.000.000 đồng/m2, giá trị nhà đất ở vợ chồng ông H đã tạo lập từ năm 1993 đến nay, giá thị trường khoảng 10.000.000 đồng/m2. Như vậy tổng diện tích nhà 60m2: 5.000.000 đồng x 60m2 = 300.000.000 đồng, diện tích đất: 10.000.000 đồng x 120m2 = 1.200.000.000 đồng. Tổng giá trị nhà ở và đất ở khoảng 1.500.000.000 đồng (một tỷ năm trăm triệu đồng). Do vợ chồng ông H mới bỏ chi phí sửa chữa vào năm 2015.
Nay đại diện ông H làm bản kê khai này cho quý Tòa được rõ về nguồn gốc nhà đất và giá trị căn nhà để quý Tòa có hướng giải quyết đúng quy định, thu hồi giấy chứng nhận đã cấp cho bà Phạm Thị N1 để gia đình ông bà được sinh sống ôn định, tránh kiện tụng kéo dài.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-Bà Nguyễn Thị G trình bày: Bà là vợ ông H và có cùng ý kiến, lời trình bày như ông H, không đồng ý trả lại phần đất tranh chấp cho nguyên đơn.
-Ủy ban nhân dân huyện B trình bày: Tại văn bản số 2790/UBND ngày 17/7/2019 có nội dung đối với quá trình đăng ký kê khai và quản lý sử dụng phần phần đất diện tích 866m2 thuộc thửa 184, tờ bản đồ số 14.TL 02/CT-UB tọa lạc tại B Ấp B, xã H, huyện B theo tài liệu 299; Tài liệu 02; Bản đồ địa chính là do bà Phạm Thị N1 đăng ký, căn nhà B là do bà Ngô Thị N quản lý sử dụng (đính kèm công văn 208/UBND, ngày 07/02/2008 của Ủy ban nhân dân xã H, đối với nội dung biến động thế chấp, chuyển nhượng đến ngày 11/8/2016 đã đăng ký di sản thừa kế do bà Phạm Thị N1 chết để lại cho bà Ngô Thị N đại diện đứng tên trên giấy chứng nhận. Riêng phần di sản bà Phạm Thị N1 chết, bà Ngô Thị N nhận quyền thừa kế được hưởng và đồng ý nhận quyền thừa kế của bà Ngô Thị N2 tặng trong khối di sản của bà N1. Hiện tại chưa tìm thấy thông tin thế chấp của giấy chứng nhận nêu trên (Đính kèm công văn số 2347/VPĐK-CNBC, ngày 11/6/2019 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện B) đối với yêu cầu phản tố của bị đơn: về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 77/QSDĐ/Hưng Long ngày 25/9/2001 cho hộ bà Phạm Thị N1, cập nhật biến động ngày 11/8/2016: Hồ sơ cập nhật biến động do chuyển nhượng cho bà Ngô Thị N2 trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 77/QSDĐ/Hưng Long ngày 25/9/2001 là đúng trình tự thủ tục quy định. Do đó đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 77/QSDĐ/Hưng Long ngày 25/9/2001 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho hộ bà Phạm Thị N1, cập nhật biến động ngày 11/8/2016.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 2135/2023/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định:
Áp dụng Điều 158; Điều 166; Điều 168; Điều 188; Điều 459 và Điều 579 Bộ luật dân sự 2015; Điều 95, Điều 203 Luật đất đai.
- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị N:
Buộc bị đơn ông Phạm Văn H và những người đang cư trú phải di dời tài sản để giao trả cho nguyên đơn bà Ngô Thị N phần đất có diện tích 125,6m2 thuộc thửa 184, tờ bản đồ số 14.TL 02/CT-UB tọa lạc tại B ấp B, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, tại “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: T151904, vào sổ cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: 77/QSDĐ/Hưng Long ngày 19/4/1995 (cấp đổi ngày 25/9/2001) do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho hộ bà Phạm Thị N1, theo “Bản đồ hiện trạng vị trí” do Công ty TNHH Đ vẽ - Thiết kế - Xây dựng - Dịch vụ Bất động sản H1 lập ngày 18/03/2017, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B duyệt kiểm tra nội nghiệp ngày 14/4/2017. Thời hạn di dời là 03 tháng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Nguyên đơn bà Ngô Thị N phải giao cho bị đơn ông Phạm Văn H số tiền: 200.000.000 đồng để hỗ trợ di dời tài sản và 300.000.000 đồng là phần công sức gìn giữ tôn tạo, thực hiện các nghĩa vụ để duy trì giá trị quyền sử dụng đất. Tổng cộng là: 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Phạm Văn H về yêu cầu hủy bỏ “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” số 77/QSDĐ/Hưng Long ngày 19/4/1995 (cấp đổi ngày 25/9/2001) do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho bà Phạm Thị N1, đã được cập nhật ngày 14/10/2004 và ngày 11/8/2016.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.
* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 06/10/2023 nguyên đơn bà Ngô Thị N kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về nội dung không đồng ý hỗ trợ tiền công sức, giữ gìn, tôn tạo đất số tiền 300.000.000 đồng.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện theo ủy quyền của người kháng cáo nguyên đơn – bà Ngô Thị N giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Ngô Thị N, thấy rằng:
[1.1]. Về nguồn gốc phần diện tích 125,6m2 đất tranh chấp tọa lạc tại B Ấp B, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, nguyên đơn đã được cập nhật tại “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” số 77/QSDĐ/Hưng Long ngày 19/4/1995 (cấp đổi ngày 25/9/2001) do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho bà Phạm Thị N1, đã được cập nhật ngày 14/10/2004 và ngày 11/8/2016.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn không kháng cáo nên có căn cứ xác định phần đất tranh chấp là của nguyên đơn.
[1.2]. Về số tiền 300.000.000 đồng là công sức, giữ gìn, tôn tạo, quản lý đất; thấy rằng:
Thực tế, bị đơn ông H đã cất nhà và sử dụng diện tích đất này từ năm 1993, được bà Phạm Thị N1 (mẹ nguyên đơn, dì ruột bị đơn) là người chủ sử dụng đất và được Nhà nước cấp giấy chứng nhận vào năm 1995 cho đến năm 2005. Trong suốt thời gian này, phía nguyên đơn không cản ngăn hay tranh chấp gì; ông H đã có trên 20 năm gìn giữ tôn tạo, thực hiện các nghĩa vụ để duy trì đối với giá trị quyền sử dụng đất này.
Tòa sơ thẩm căn cứ vào giá trị đất tại “Chứng thư thẩm định giá” số: 60/12/06/2023/TĐG-BĐS ngày 12/6/2023 của Công ty Cổ phần - xác định thì “Giá trị công trình trên đất” còn lại của ông H là: 184.524.496 đồng và giá trị quyền sử dụng đối với diện tích 125,6m² đất tranh chấp là: 1.415.009.600 đồng để buộc nguyên đơn hỗ trợ thêm 300.000.000 đồng (tương đương khoản 25%) tiền công sức đóng góp, tôn tạo, bảo quản làm tăng giá trị quyền sử dụng đất là phù hợp, đảm bảo quyền và lợi ích các bên.
[2]. Từ những phân tích nhận định trên, thấy rằng yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là không có cơ sở chấp nhận. Quan điểm của Viện kiểm sát đề nghị bác kháng cáo, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo bà Ngô Thị N phải chịu 300.000 đồng.
[4]. Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
- Không chấp nhận kháng cáo của Ngô Thị N. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 2135/2023/DS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị N:
- - Buộc bị đơn ông Phạm Văn H và những người đang cư trú phải di dời tài sản để giao trả cho nguyên đơn bà Ngô Thị N phần đất có diện tích 125,6m2 thuộc thửa 184, tờ bản đồ số 14.TL 02/CT-UB tọa lạc tại B ấp B, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, tại “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: T151904, vào sổ cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số: 77/QSDĐ/Hưng Long ngày 19/4/1995 (cấp đổi ngày 25/9/2001) do Ủy ban nhân dân huyện B cấp cho hộ bà Phạm Thị N1, theo “Bản đồ hiện trạng vị trí” do Công ty TNHH Đ vẽ - Thiết kế - Xây dựng - Dịch vụ Bất động sản H1 lập ngày 18/03/2017, được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện B duyệt kiểm tra nội nghiệp ngày 14/4/2017. Thời hạn di dời là 03 tháng kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- - Nguyên đơn bà Ngô Thị N phải giao cho bị đơn ông Phạm Văn H số tiền: 200.000.000 đồng để hỗ trợ di dời tài sản và 300.000.000 đồng là phần công sức gìn giữ tôn tạo, thực hiện các nghĩa vụ để duy trì giá trị quyền sử dụng đất. Tổng cộng là: 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn bà Ngô Thị N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004092 ngày 27/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh (đã nộp xong).
- Các phần khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chung Văn Kết |
Bản án số 310/2024/DS-PT ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 310/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
