Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 310/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16-8-2024

Về tranh chấp: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Trường

- Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Kim Chung

Ông Đỗ Quang Chung

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Soan - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Tiến Nam – Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 182/2024/TLST- HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 15 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 50/2024/QÐST-HNGĐ, ngày 31 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị P, sinh năm 1973; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số nhà F đường T, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng P1, sinh năm 1963; số căn cước công dân: [...]; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số nhà F đường T, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định (vắng mặt không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện tranh chấp về hôn nhân và gia đình nộp ngày 30-5-2024, trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn là bà Đỗ Thị P trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Hồng P1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 08-10-1998 tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố N, tỉnh Nam Định. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống. Ông P1 không quan tâm đến vợ con và không tôn trọng bà. Khi vợ chồng xảy ra va chạm thì ông P1 chửi bới, xúc phạm bà. Bà đã nhiều lần nói chuyện mong ông P1 thay đổi nhưng không có kết quả. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 3 năm 2024 đến nay. Bà xác định vợ chồng không thể chung sống, mâu thuẫn không thể khắc phục được nên xin ly hôn với ông P1.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Đức T, sinh năm 2001. Con chung đã trưởng thành nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đối với ông Nguyễn Hồng P1 theo quy định của pháp luật nhưng ông Nguyễn Hồng P1 không đến Tòa án làm việc.

Tại biên bản thu thập tài liệu chứng cứ tại địa phương xác nhận tình trạng hôn nhân giữa bà P bà ông P1 có mâu thuẫn. Ông Nguyễn Hồng P1 thường xuyên vắng nhà do phải chăm mẹ bị bệnh. Nay bà Đỗ Thị P có đơn xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định căn cứ Điều 21, Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhận xét đánh giá:

Về quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.

Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn đã được tống đạt các thủ tục tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do.

Về việc giải quyết vụ án: Quan hệ hôn nhân giữa bà Đỗ Thị P và ông Nguyễn Hồng P1 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách, quan điểm sống khác nhau, vợ chồng không có biện pháp khắc phục mâu thuẫn. Nay hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử, xử ly hôn giữa bà Đỗ Thị P và ông Nguyễn Hồng P1.

Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Đức T, sinh năm 2001, đã trưởng thành, tự lập nên không xem xét, giải quyết.

Về tài sản và công nợ chung: Bà Đỗ Thị P không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

Án phí ly hôn sơ thẩm: Nguyên đơn là bà Đỗ Thị P phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là bà Đỗ Thị P có đơn xin vắng mặt. Bị đơn là ông Nguyễn Hồng P1 đã được tống đạt hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xử vắng mặt bà Đỗ Thị P và ông Nguyễn Hồng P1.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đỗ Thị P và ông Nguyễn Hồng P1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố N, tỉnh Nam Định ngày 08-10-1998 nên là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn bà Đỗ Thị P và ông Nguyễn Hồng P1 chung sống hòa thuận được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Tòa án đã tiến hành tống đạt các thủ tục tố tụng đối với ông Nguyễn Hồng P1 nhưng ông P1 không đến Tòa án làm việc, không có quan điểm gì chứng tỏ ông P1 không có nguyện vọng đoàn tụ. Nay bà Đỗ Thị P xác định không còn tình cảm với ông P1 và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Xét mâu thuẫn của bà Đỗ Thị P và ông Nguyễn Hồng P1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử có căn cứ xử cho ly hôn giữa bà Đỗ Thị P và ông Nguyễn Hồng P1 theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Vợ chồng có một con chung là Nguyễn Đức T, sinh năm 2001, con chung đã trưởng thành, tự lập, bà Đỗ Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Bà Đỗ Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về án phí ly hôn: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn là bà Đỗ Thị P phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa bà Đỗ Thị P và ông Nguyễn Hồng P1.

2. Về án phí: Bà Đỗ Thị P phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà P đã nộp tại biên lai thu tiền số 0002148 ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định.

3. Quyền kháng cáo: Bà Đỗ Thị P và ông Nguyễn Hồng P1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND thành phố Nam Định;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - UBND P. Bà Triệu, TP. Nam Định;
  • - Các đương sự;
  • - Hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 310/2024/HNGĐ-ST ngày 16/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn

  • Số bản án: 310/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà P ly hôn ông P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger