Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 310/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16/7/2024

V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đức Thành

2. Ông Trần Văn Vinh

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Phượng - Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 45/2024/TLST-HNGĐ ngày 22/01/2024 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/6/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 40/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09/7/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1981 (có mặt)

HKTT: thôn Huỳnh Cung, xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội

Chỗ ở: số 11, ngách 168/118/24, thôn Huỳnh Cung, xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội

Bị đơn: anh Đỗ Minh T, sinh năm 1980 (có mặt)

HKTT: thôn Huỳnh Cung, xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội

Chỗ ở: số 11, ngách 168/118/24, thôn Huỳnh Cung, xã Tam Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, chị Nguyễn Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 09/11/2009 tại UBND phường L, quận H, Hà Nội. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống tại số A, ngách A, thôn H, xã T, huyện T, Hà Nội đến năm 2019 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh T cờ bạc, nghiện ma túy. Anh T là người nóng tính, không kiểm soát được cơn nóng giận nên đã nhiều lần đánh đập chị N ngay trước mặt các con, làm ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần, tâm sinh lý của chị N và các con. Hai bên gia đình đã hòa giải cho anh chị đoàn tụ nhưng không được. Anh chị sống ly thân từ tháng 8/2023 đến nay, không ai còn quan tâm đến ai. Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị N xin được ly hôn với anh T.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Đỗ Quỳnh C, sinh ngày 26/02/2010 và Đỗ Doãn M, sinh ngày 09/01/2013. Cả hai cháu đều đang sinh sống cùng chị N tại nhà chị N thuê ở số B, đường N, thị trấn V, huyện T, Hà Nội. Ly hôn, chị N xin nuôi cả hai con và không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con. Chị N có thu nhập khoảng 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng/tháng và được em trai hỗ trợ sinh hoạt nên đủ điều kiện nuôi con.

Về tài sản chung, nhà đất và công nợ: Chị N yêu cầu Tòa án giải quyết là nhà đất tại địa chỉ số A xóm G, thôn H, xã T, huyện T, Hà Nội. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, chị N xin rút yêu cầu về tài sản, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn, anh Đỗ Minh T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh T xác nhận chị N trình bày về quá trình vợ chồng kết hôn, chung sống là đúng sự thật. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chơi bời, cờ bạc, rượu chè, vợ chồng thường xảy ra xô xát. Anh chị đã nói chuyện với nhau nhưng không giải quyết được mâu thuẫn và đã sống ly thân từ tháng 8/2023 đến nay, từ khi sống ly thân, không ai còn quan tâm đến ai. Nhưng chị N xin ly hôn thì anh không đồng ý do các con còn nhỏ, anh sợ ảnh hưởng đến tâm lý của các cháu.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung như chị N trình bày. Trường hợp ly hôn, anh xin nuôi cả hai con và không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con. Anh T hiện đang làm công nhân, thu nhập 10.000.000 đồng/tháng và có nhà ở ổn định.

Về tài sản chung, nhà đất và công nợ: Anh T xác nhận vợ chồng không có tài sản chung. Anh không đồng ý với yêu cầu chia tài sản của chị N vì nhà đất tại số A xóm G, thôn H, xã T, huyện T, Hà Nội là của bố mẹ anh, không phải tài sản chung vợ chồng.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.

- Bị đơn đồng ý ly hôn với chị N; đồng ý giao cả hai con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục và không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung, nhà ở, công nợ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì có quan điểm:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật, xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng, tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử điều khiển phiên tòa theo đúng trình tự, thủ tục. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn không chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị N, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị N và anh T; Về con chung: giao cả hai con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh T có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Chị N không yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Về tài sản chung, nhà đất, công nợ: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét. Về án phí: Chị N phải nộp tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, các chứng cứ và tài liệu do các đương sự xuất trình, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

1.1. Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị N đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn với anh Đỗ Minh T. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

1.2. Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là anh Đỗ Minh T có địa chỉ tại xã T, huyện T, Hà Nội nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Đỗ Minh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 09/11/2009 tại UBND phường L, quận H, Hà Nội. Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Sau khi kết hôn, anh chị thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T chơi bời, cờ bạc, rượu chè, khi nóng giận thì đánh đập chị N, gây ảnh hưởng đến tinh thần, tâm sinh lý của chị N và các con. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 8/2023 đến nay, không ai còn quan tâm đến ai. Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị xin được ly hôn với anh T. Tại phiên tòa, anh T xác nhận lời trình bày của chị N về quá trình kết hôn, chung sống và đồng ý ly hôn với chị N.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương xác định chị N và anh T có mâu thuẫn về tình cảm, thường xuyên cãi nhau. Từ tháng 8/2023, chị N cùng các con đã chuyển đi, không tiếp tục chung sống cùng anh T nữa. Hội đồng xét xử xét thấy, chị N và anh T mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Tại phiên tòa, chị N và anh T đã thỏa thuận tự nguyện ly hôn. Do vậy, căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, ghi nhận sự tự nguyện ly hôn của chị N và anh T.

2.2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị N và anh Đỗ Minh Tuân A có 02 con chung là cháu Đỗ Quỳnh C, sinh ngày 26/02/2010 và Đỗ Doãn M, sinh ngày 09/01/2013.

Ly hôn, chị N xin nuôi cả hai con và không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con. Chị N có thu nhập khoảng 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng/tháng và được em trai hỗ trợ sinh hoạt. Chị N hiện đang thuê nhà ở tại số B, đường N, thị trấn V, huyện T, Hà Nội. Tại phiên tòa, chị N, anh T đã thỏa thuận giao cả hai con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng.

Cháu C, cháu M hiện đều đang sinh sống cùng chị N và đều có lời khai thể hiện nguyện vọng xin được ở với chị N nếu bố mẹ ly hôn. Do đó, trên cơ sở nguyện vọng của các đương sự, đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống, học tập, sinh hoạt cũng như tâm lý phát triển của con chung, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình, ghi nhận sự thỏa thuận của chị N, anh T, giao cả hai con chung cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.

Chị N không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Anh T có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở.

2.3. Về tài sản chung, nhà đất, công nợ: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[4] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

  • - Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Khoản 1 Điều 28, Điều 35, 39, 147, 227, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị N và anh Đỗ Minh T.
  2. Về con chung: Xác nhận chị Nguyễn Thị N và anh Đỗ Minh T có 02 con chung là Đỗ Quỳnh C, sinh ngày 26/02/2010 và Đỗ Doãn M, sinh ngày 09/01/2013.

    Ghi nhận sự thỏa thuận của anh chị: Sau ly hôn, chị N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung. Anh Đỗ Minh T có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung không ai được cản trở. Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con nên tòa không xem xét.

  3. Về tài sản chung, nhà đất và công nợ: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 6941 ngày 22/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Trì. Chị N đã nộp đủ án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND TP. Hà Nội;
  • - VKSND huyện Thanh Trì;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Trì;
  • - Các bên đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 310/2024/HNGĐ-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 310/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger