Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc

Bản án số: 310/2023/HS-ST

Ngày 15/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Quang Long

Các Hội thẩm nhân dân: 1 – Ông Đỗ Gia Ánh

2 - Bà Phạm Thị Mai Anh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thụ - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Đăng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 322/2023/TLST, ngày 26 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 331/2023/HS-QĐ ngày 01/11/2023, của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Tiến B, sinh năm 1993. HKTT: TDP A, phường M, quận N, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Nguyễn Văn D, sinh năm 1959. Con bà: Phạm Thị H, sinh năm 1961; Vợ: Đặng Thị Linh N, sinh năm 1993; Có 02 con, lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/8/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Số 01 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại: Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1997; Nơi ĐKHKTT: xóm T, xã B, huyện G tỉnh Nam Định; Hiện cư trú: Số D, Hẻm B, ngách C, đường M, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Đỗ Thị Minh L, sinh năm 1970; ĐKHKTT: SỐ C, đường B, phường B, quận H, Hà Nội; Vắng mặt tại phiên toà.

Người đại diện theo uỷ quyền của chị L có chị Cao Thị Thanh V, sinh năm 1973; ĐKHKTT: Tổ H, phường H, quận H, TP .; Vắng mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 5/2023, Nguyễn Tiến B quen biết và có tình cảm với chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1997, HKTT: tại xóm T, xã B, huyện G, tỉnh Nam Định, hiện đang ở trọ số 4, hẻm B, ngách C đường M, phường M, quận N, Hà Nội. Tối ngày 02/7/2023, B cùng chị P đi chơi về, do thiếu tiền chi tiêu cá nhân nên B đã nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen trắng, biển kiểm soát 18B1-893.51 của chị P để đem đi cầm cố lấy tiền tiêu sài. Tại đây, lợi dụng lúc chị P đi tắm, B đã mở túi xách của chị P và lấy trộm giấy đăng ký xe Wave biển kiểm soát 18B1-893.51, mục đích để thuận lợi khi đem cầm cố tài sản. Ngày 03/7/2023, chị P phát hiện bị mất giấy đăng ký xe nên nói với B nhưng B nói không lấy.

Đến sáng ngày 04/7/2023, B do có ý định chiếm đoạt xe máy biển kiểm soát 18B1-893.51 nên B vờ hỏi mượn chị P chiếc xe này để đi giải quyết công việc cá nhân, chị P đồng ý. Bách sau đó đã lấy xe và đưa chị P đến chỗ làm việc rồi điều khiển xe đi đến cửa hàng cầm đồ tại số C B, quận H, Hà Nội, do chị Đỗ Thị Minh L, sinh năm 1970, HKTT: Số C đường B, phường B, quận H, Hà Nội đứng tên đăng ký kinh doanh; ủy quyền cho chị Cao Thị Thanh V, sinh năm 1973, HKTT: Tổ H phường H, quận H, Hà Nội trực tiếp quản lý. Bách vào gặp anh Cao Khắc T, sinh năm 1984, HKTT: Khu phố C, Đ, Đ, Quảng Trị, là nhân viên của cửa hàng để cầm cố xe. Tại đây, B nói dối là xe của mình mua lại, anh T sau khi kiểm tra xe và giấy tờ xe đã đồng ý nhận cầm cố chiếc xe của B với giá 5.000.000 đồng, thời hạn cầm cố xe là 01 tháng với lãi suất 3.000 đồng/triệu/ngày. Anh T yêu cầu B viết 01 giấy vay số tiền 5.000.000 đồng, nhưng sau đó do B thấy số tiền này không đủ để trả nợ nên đã hỏi anh T chiếc xe cầm cố tối đa được bao nhiêu tiền, anh T trả lời là 8.200.000 đồng nên B sau đó đã vay thêm 02 lần với số tiền là 2.000.000 đồng và 1.200.000 đồng và được anh T ghi thêm vào giấy vay tiền mà B đã viết trước đó. Số tiền 8.200.000 đồng cầm cố xe máy, B đã chi tiêu cá nhân hết.

Đến khoảng 15 giờ ngày 04/7/2023, B nhắn tin qua ứng dụng Zalo cho chị P nói dối xe máy đang bị Công an phường B tạm giữ do để xe dưới lòng đường. Chị P sau đó đã tự kiểm tra thấy không có việc này nên đã hỏi lại thì B nói dối đã lấy xe ra và bị mất cắp tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ. Do nhiều lần đòi lại xe nhưng B nêu ra nhiều lý do khác nhau và không trả xe nên ngày 09/8/2023, chị P đã có đơn trình báo sự việc.

Ngày 10/8/2023, Nguyễn Tiến B đến Công an phường M đầu thú.

Dẫn giải B, cơ quan Công an đã xác định và thu giữ được chiếc xe máy BKS 18B1-893.51 cùng giấy đăng ký xe mà B đã cầm cố tại cửa hàng cầm đồ 343C Bạch Mai ngày 04/7/2023.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 108 ngày 17/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận N, kết luận: “01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave, màu trắng đen, BKS: 18B1-893.51, số khung: 3828GY028570, số máy: JA38E0092561, đăng ký lần đầu ngày 13/5/2017, đã qua sử dụng. Trị giá tài sản là: 8.000.000 đồng”.

Đối với Cao Khắc T (hiện đang vắng mặt tại địa phương) và Cao Thị Thanh V (là người được ủy quyền quản lý cửa hàng cầm đồ): Quá trình điều tra xác định khi cầm cố tài sản anh T không biết là tài sản do phạm tội mà có và do chị V không có mặt khi T nhận cầm cố tài sản. Tại thời điểm nhận cầm cố, T là người trực tiếp quản lý cửa hàng và có thỏa thuận với B về lãi suất vay là 3.000 đồng/triệu/ngày nhưng do T chưa thu tiền lãi và suốt quá trình vay tiền, B cũng chưa trả tiền lãi nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Ngày 06/10/2023, cơ quan Công an quận N đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với chị Đỗ Thị Minh L (là người đứng tên trên giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh) về hành vi “nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác nhưng không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố” theo điểm 1 khoản 3 Điều 12 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2023 của Chính phủ, phạt tiền 7.500.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiến hành trao trả 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu đen trắng, BKS: 18B1-893.51 (số máy: JA38E0092561, số khung: 3828GY028570) cùng giấy tờ đã thu giữ cho chị Nguyễn Thị P. Chị P không có yêu cầu, đề nghị gì về bồi thường dân sự.

Chị Cao Thị Thanh V (người được ủy quyền quản lý cửa hàng cầm đồ số 343C) yêu cầu Nguyễn Tiến B phải bồi thường số tiền 8.200.000 đồng đã vay khi cầm cố chiếc xe máy BKS: 18B1-893.51.

Tại bản cáo trạng số 313/CT-VKSNTL ngày 26/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố bị cáo Nguyễn Tiến B về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

Người bị hại chị Nguyễn Thị P tại toà trình bày đã nhận lại tài sản không còn yêu cầu bồi thường gì khác và đề nghị xử theo pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị Minh L và đại diện theo uỷ quyền vắng mặt tại phiên toà.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 174; điểm i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 6 đến 9 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 11/8/2023.

Về dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Cao Thị Thanh V số tiền 8.200.000đồng.

Về vật chứng: Không.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, của thẩm phán, hội thẩm nhân dân, thư ký Tòa án. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa, người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có trong hồ sơ và tại phiên toà, đủ cơ sở xác định: Trong ngày 02/7/2023 và ngày 04/7/2023, tại nhà trọ số D, hẻm B, ngách C, đường M, phường M, quận N, Hà Nội, Nguyễn Tiến B do có mục đích chiếm đoạt tài sản nên đã lấy trộm giấy đăng ký xe máy BKS 18B1-89351 của chị Nguyễn Thị P, sau đó tiếp tục có hành vi gian dối để chị P tin tưởng giao xe cho B, B đã chiếm đoạt chiếc xe máy Honda Wave BKS 18B1-89351, trị giá 8.000.000 đồng của chị P đem đi cầm cố lấy tiền chi tiêu cá nhân. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp pháp luật.

[3] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại sức khỏe, tính mạng, quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng cho quần chúng nhân dân, cần được xét xử nghiêm minh theo quy định. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian với mức án như đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp. Vì vậy, xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù trong khung hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian với mức án như đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần áp dụng cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ.

[4]. Vật chứng: Không có.

[5]. Về dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu nên Toà án không xem xét.

Đối với chị Đỗ Thị Minh L chủ cửa hàng cầm đồ đã cho bị cáo Nguyễn Tiến B cầm cố chiếc xe máy với số tiền 8.200.000đồng, chị L không biết xe máy do B phạm tội mà có nay chi có yêu cầu nên cần buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Đỗ Thị Minh L số tiền 8.200.000đồng là có căn cứ.

Bị cáo phải chịu án phí HSST, án phí DSST đối với khoản bồi thường và có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tiến B phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng: khoản 1 Điều 174; điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Các Điều 106; Điều 331; Điều 333; Điều 336 BLTTHS 2015.

Xử phạt: Nguyễn Tiến B 8 (tám) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn từ tính từ bắt tạm giữ, tạm giam 11/8/2023.

Buộc bị cao Nguyễn Tiến B phải có trách nhiệm bồi thường cho chị Đỗ Thị Minh L số tiền 8.200.000đồng.

Áp dụng Điều 357 BLDS. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật nếu bị cáo không thực hiện nghĩa vụ bồi thường thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả được xác định tại khoản 2 Điều 468 BLDS.

2- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 410.000đồng án phí DSST.

Án xử công khai sơ thẩm. Báo cho bị cáo, người bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Tòa án nhân dân TP Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP Hà Nội;
  • - Sở tư pháp Hà Nội;
  • - VKSND quận Nam Từ Liêm;
  • - THADS quận Nam Từ Liêm;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Vũ Quang Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 310/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 310/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tiến Bách
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger