|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 310/2024/HS-ST Ngày: 05-07-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC -THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thực.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Đăng Vạn.
- Ông Phạm Văn Phước.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Lê Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 299/2024/HSST ngày 07/06/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 329/2024/QĐXXST-HS ngày 17/06/2024, đối với các bị cáo:
1. Võ Trương L; sinh năm: 1986 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A L, phường C, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Tấn T và bà Trương Thị L1; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Bản án số 149/HSST ngày 17/11/2005 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 36 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Bản án số: 140/HSPT ngày 30/12/2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 36 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Đã đóng án phí và chấp hành xong án phạt tù ngày 24/10/2007 (Đã chấp hành xong).
- Bản án số 25/HSST ngày 24/01/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Đã đóng án phí và chấp hành xong án phạt tù ngày 03/02/2018 (Đã chấp hành xong).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/05/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
2. Mai Thanh D; sinh năm: 2003 tại tỉnh Bình Dương; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A, khu phố H, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Vinh H và bà Nguyễn Thị Bích L2; Bị cáo chưa có chồng, có 01 con sinh năm 2021;
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/05/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 31/5/2023, Tổ công tác thuộc Công an phường T, thành phố T kiểm tra hành chính tại khách sạn P1 (địa chỉ: H đường G, khu phố E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh). Qua kiểm tra phòng 204 do Mai Thanh D và Võ Trương L phát hiện và thu giữ các chất ma túy, cụ thể:
- Trên đầu tủ lạnh:
- Trong túi xách màu đen có 01 hộp nhựa màu vàng đựng 01 gói nylon chứa tinh thể không màu.
- 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet đựng 01 gói nylon chứa tinh thể không màu và 01 nỏ bằng thủy tinh.
- Trên bàn gỗ cạnh giường ngủ có 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Jet bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu.
- Trong bồn rửa mặt nhà vệ sinh có 01 gói ny lon chứa tinh thể không màu.
Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Mai Thanh D và Võ Trương L về hành trên và thu giữ toàn bộ đồ vật.
Quá trình điều tra xác định: Bị cáo D và bị cáo L sống với nhau như vợ chồng vào cuối tháng 11/2022. Đến cuối tháng 05/2023, D và L chuyển đến phòng 204, khách sạn P1 để ở và mua bán ma tuý. Nguồn gốc ma tuý do L mua từ Ú (không rõ lai lịch, L khai là bạn tù tại Trại giam A1 với L vào năm 2016). L nói D sử dụng điện thoại của D số 0589.820.xxx gọi cho Ú sử dụng số điện thoại: 0774.136.xxx mua ma tuý đá 02 lần, cụ thể:
Lần đầu vào trưa ngày 30/5/2023, L nhờ D gọi điện thoại cho Ú mua 01 gói ma tuý đá với giá 500.000 đồng (không rõ số lượng bao nhiêu). Trưa cùng ngày, Ú đến giao 01 gói ma tuý cho L tại phòng 204 khách sạn Phan Hoàng A nhưng chưa đưa tiền, D khai có thấy việc Út giao ma tuý cho L và L đưa ma tuý cho D phân nhỏ ra để bán kiếm lời.
Lần thứ hai vào trưa ngày 31/5/2023, L nhờ D gọi điện thoại cho Ú mua 01 gói ma tuý đá với giá 1.500.000 đồng. Vào lúc 14 giờ 00 phút cùng ngày, Ú đến giao 01 gói ma tuý cho L tại phòng 204 khách sạn P1. D biết việc Ú giao ma tuý cho L và L trả 500.000 đồng bằng tiền mặt là tiền mua ma tuý của Ú vào ngày 30/5/2023 rồi mang số ma tuý vừa nhận vào phòng 204 và phân ra thành nhiều gói ma tuý nhỏ.
Sau khi mua ma tuý từ Ú, bị cáo L đưa ma tuý cho D để tìm khách bán kiếm lời, số tiền thu được thì D sẽ đưa lại cho L để trang trải cuộc sống và L sẽ cho D từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng/ngày để tiêu xài cá nhân. Ngày 31/05/2023, D và L đã bán được 01 gói ma tuý đá với giá 200.000 đồng (trả bằng tiền mặt) cho Lê Thị Ngọc H1 ở phòng 402 khách sạn P1, sau đó bán 01 gói ma tuý đá với giá 200.000 đồng (trả bằng tiền mặt) cho Lê Minh P ở phòng 203, khách sạn P1. Sau khi bán ma túy, D đưa hết tiền cho L và có nói là tiền bán ma túy cho P, H1.
Ngoài ra, trong tháng 05/2023, do L và D có giận nhau nên D ở riêng tại khách sạn P1. Thời điểm này, D có tự gọi điện cho Ú để mua 01 gói ma tuý đá với giá 500.000 đồng. D phân ra bán 01 gói ma tuý cho H1 ở phòng 402 với giá 200.000 đồng, bán 01 gói ma tuý cho P ở phòng 203 với giá 200.000 đồng, H1 và P đã sử dụng hết số ma tuý mua từ D.
Tại Cơ quan Công an Võ Trương L, Mai Thanh D, Lê Minh P, Lê Thị Ngọc H1 khai nhận phù hợp với nội dung như trên.
Kết quả xét nghiệm: Mai Thanh D, Võ Trương L, Lê Minh P và Lê Thị Ngọc H1 đều dương tính với chất ma túy, loại MET.
Bản Kết luận giám định số 5919/KL-KTHS ngày 09/6/2023 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận:
- Gói 1: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m1 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,2618g, loại Methamphetamine.
- Gói 2: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m2 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,5682g, loại Methamphetamine.
- Gói 3: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m3 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,2469g, loại Methamphetamine.
- Gói 4: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m4 cần giám định (đã nêu ở mục II.1) là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,1464g, loại Methamphetamine.
Bản Kết luận giám định số 3772/KL-KTHS ngày 13/7/2023 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận:
Phân tích được 01 kiểu gen nữ từ các dấu vết trên gói nylon (Ký hiệu gói 2), vỏ bao thuốc lá hiệu Jet (Ký hiệu gói 6) và vỏ bao thuốc lá hiệu Jet (Ký hiệu gói 7) trùng với kiểu gen của Mai Thanh D.
Không phát hiện thấy AND trên 03 gói nylon (Ký hiệu gói 1, gói 3, gói 4) và 02 nắp nhựa màu vàng (Ký hiệu gói 5).
Vật chứng vụ án:
- 04 (bốn) gói được niêm phong bên ngoài ghi vụ số (1247/23) có chữ ký của Giám định viên Trần Ngọc H2.
- 01 (một) túi xách màu đen.
- 01 (một) nỏ bằng thủy tinh.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu S, màu vàng, có số thuê bao 0589.820.050.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu S, màu xanh.
- 01 (một) hộp nhựa màu vàng.
- 02 (hai) vỏ bao thuốc lá hiệu Jet.
- 04 (bốn) gói nylon.
- 01 (một) gói (niêm mạc của Mai Thanh D).
- 01 (một) gói và (niêm mạc của Võ Trương L).
- Số tiền 450.000 đồng.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên, các bị cáo đồng ý với kết luận giám định, đồng ý với các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng và không khiếu nại hay có ý kiến gì khác.
Bản Cáo trạng số 79/CT-VKSTPTĐ ngày 29/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố các bị cáo D, L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội và tranh luận:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về hành vi, tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như nội dung bản cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Xử phạt: Bị cáo Võ Trương L từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2023.
- Xử phạt: Bị cáo Mai Thanh D từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2023.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị:
Tich thu, tiêu hủy đối với: 04 (bốn) gói được niêm phong bên ngoài ghi vụ số (1247/23) có chữ ký của Giám định viên Trần Ngọc H2; 01 (một) túi xách màu đen; 01 (một) nỏ bằng thủy tinh; 01 (một) hộp nhựa màu vàng; 02 (hai) vỏ bao thuốc lá hiệu Jet; 04 (bốn) gói nylon; 01 (một) gói (niêm mạc của Mai Thanh D); 01 (một) gói (niêm mạc của Võ Trương L).
Tịch thu, sung quỹ đối với 01 Điện thoại di động hiệu S, màu vàng có số thuê bao 0589.820.050 và 01 Điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh thu giữ của D.
Đối với số tiền 450.000 đồng: L cùng D xác định đây là tiền riêng của bị cáo D, không liên quan đến vụ án nên đề nghị trả lại cho bị cáo D.
Các bị cáo không bào chữa, không tranh luận và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Trong quá trình điều tra, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu, lời khai của các bị cáo phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận:
Đây là vụ án “Mua bán trái phép chất ma túy” do bị cáo Võ Trương L và bị cáo Mai Thanh D thực hiện. Ngày 30/05/2023, L và D mua ma túy của người thanh niên tên Ú (không rõ lai lịch) với giá 500.000 đồng về để phân nhỏ bán kiếm lời. Ngày 31/05/2023, L và D tiếp tục mua ma túy của Ú với giá 1.500.000 đồng cùng với mục đích phân nhỏ bán kiếm lời. Ngày 31/05/2023, các bị cáo đã bán được 01 gói ma tuý đá với giá 200.000 đồng cho Lê Thị Ngọc H1 ở phòng 402 khách sạn Phan Hoàng A, đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, D và L tiếp tục bán 01 gói ma tuý đá với giá 200.000 đồng cho Lê Minh P ở phòng 203, khách sạn P1. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được của D và L tại khách sạn P1 với mục đích để bán kiếm lời là 3.2233g, loại Methamphetamine. Trước đó, ngày 26/5/2023, D tự ý mua ma túy của Ú về bán và đã bán được cho H1 01 lần và P được 01 lần, mỗi lần bán một gói ma túy giá 200.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo L, D đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đối với Lê Minh P, Lê Thị Ngọc H1 có hành vi mua ma túy của các bị cáo để sử dụng, chưa đủ căn cứ để xử lý hình sự.
Đối với người thanh niên tên Ú (không rõ lai lịch) là người bán ma túy cho L và D, giao Cơ quan Điều tra tiếp tục làm rõ, xử lý sau.
[3] Về tình tiết định khung tăng nặng hình phạt:
Các bị cáo L, D đã bán ma túy cho H1, P nên hành vi này của các bị cáo đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các bị cáo:
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo L, D đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
[5] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với các bị cáo:
Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, tàng trữ các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, làm tiền đề phát sinh nhiều tội phạm, tệ nạn xấu trong xã hội.
Vụ án có đồng phạm, tuy nhiên chỉ là đồng phạm giản đơn chứ không có sự chỉ đạo, phân công, điều hành, các bị cáo đóng vai trò như nhau trong việc thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo L có nhân thân xấu, sau khi chấp hành xong án phạt tù không sửa đổi bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo với mức án tương xứng, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài, đồng thời xử phạt bị cáo L mức án cao hơn bị cáo D mới có tác dụng giáo dục các bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong toàn xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với: 04 (bốn) gói được niêm phong bên ngoài ghi vụ số (1247/23) có chữ ký của Giám định viên Trần Ngọc H2; 01 (một) túi xách màu đen; 01 (một) nỏ bằng thủy tinh; 01 (một) hộp nhựa màu vàng; 02 (hai) vỏ bao thuốc lá hiệu Jet; 04 (bốn) gói nylon; 01 (một) gói (niêm mạc của Mai Thanh D); 01 (một) gói (niêm mạc của Võ Trương L). Xét đây là vật nhà nước cấm lưu hành và công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 Điện thoại di động hiệu S, màu vàng có số thuê bao 0589.820.050 và 01 Điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh thu giữ của D: Bị cáo D khai nhận dùng các điện thoại liên hệ để mua bán ma túy nên đây là công cụ dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, sung quỹ nhà nước.
Đối với số tiền 450.000 đồng: L cùng D xác định đây là tiền riêng của bị cáo D, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo D.
[7] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Luật Thi hành án dân sự;
- Luật Thi hành án Hình sự.
1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Võ Trương L, Mai Thanh D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Võ Trương L 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2023.
- Xử phạt bị cáo Mai Thanh D 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2023.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy đối với: 04 (bốn) gói được niêm phong bên ngoài ghi vụ số (1247/23) có chữ ký của Giám định viên Trần Ngọc H2; 01 (một) túi xách màu đen; 01 (một) nỏ bằng thủy tinh; 01 (một) hộp nhựa màu vàng; 02 (hai) vỏ bao thuốc lá hiệu Jet; 04 (bốn) gói nylon; 01 (một) gói (niêm mạc của Mai Thanh D); 01 (một) gói (niêm mạc của Võ Trương L).
Tịch thu, sung quỹ Nhà nước đối với: 01 Điện thoại di động hiệu S, màu vàng có số thuê bao 0589.820.050 và 01 Điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh.
Trả lại cho bị cáo Mai Thanh D: Số tiền 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng).
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 69/QĐ-VKS ngày 25/01/2024; Phiếu nhập kho số NK24/199C ngày 09/04/2024; Phiếu thu số CTGS: 002 ngày 05/01/2024; Ủy nhiệm chi ngày 15/04/2024).
4. Về án phí:
Buộc mỗi bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Trung Thực |
8
Bản án số 310/2024/HS-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 310/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Trương L- Mai Thanh D
