Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LONG AN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 310/2025/DS-PT

Ngày: 06-6-2025

“V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Tuyền

Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Phượng

Ông Trần Văn Quán

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Hồng Nhật Châu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Hiền – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 02 và 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 180/2025/TLPT-DS ngày 24 tháng 4 năm 2025 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 14 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 195/2025/QĐ-PT ngày 19 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Thu H, sinh năm 1977;

Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện T, tỉnh Long An.

- Bị đơn:

  1. Bà Nguyễn Thị Á, sinh năm 1970;
  2. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1970;

Cùng địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Long An.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lê Văn T1, sinh năm 1965;
  2. Bà Phạm Thị Ả, sinh năm 1966;

Cùng địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Long An.

2

- Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Á và ông Nguyễn Văn T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 12 năm 2024 của nguyên đơn bà Võ Thị Thu H, cùng những lời trình bày như sau:

Ngày 27/4/2022, bà H cho bà Á và ông T (vợ chồng) vay số tiền 400.000.000 đồng, thời hạn vay 1 tháng, lãi suất 1,5%/tháng. Đến hạn trả nợ, bà Á và ông T không trả gốc và lãi cho bà H. Do đó, bà H khởi kiện yêu cầu bà Á và ông T trả 400.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi tính từ ngày 27/4/2022 đến ngày 27/01/2025 là 33 tháng với mức lãi suất 1,5%/tháng, thành tiền 198.000.000 đồng. Tổng cộng tiền gốc và tiền lãi yêu cầu bà Á và ông T trả là 598.000.000 đồng. Bà H cung cấp giấy hợp đồng thỏa thuận vay tiền ngày 27/4/2022 (Bản gốc) có chữ ký và viết họ tên người vay Nguyễn Thị Á và Nguyễn Văn T.

Bà H không cho ông T1 vay 400.000.000 đồng và không yêu cầu hay khởi kiện gì đối với ông T1 và bà Ả.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Á và ông Nguyễn Văn T có lời trình bày như sau: Ngày 25/4/2022, bà và ông T (vợ chồng) có vay của bà Hằng số tiền 400.000.000 đồng, thời hạn vay 1 tháng, lãi suất 1,5%/tháng. Bà Á và ông T thừa nhận giấy hợp đồng thỏa thuận vay tiền ngày 27/4/2022 do bà H cung cấp là chữ ký và viết của ông bà. Tuy nhiên, bà Á và ông T không đồng ý trả cho bà H tiền gốc 400.000.000 đồng và tiền lãi 198.000.000 đồng. Vì bà Á và ông T đã trả cho bà Hằng số tiền 400.000.000 đồng vào ngày 27/4/2022 nhưng không lấy lại Giấy hợp đồng thỏa thuận vay tiền ngày 27/4/2022 là do quên và bất cẩn. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Á và ông T cung cấp giấy hợp đồng thỏa thuận vay tiền ngày 27/4/2022 (Bản gốc) có chữ ký và viết họ tên người vay Lê Văn T1 .

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T1 có lời trình bày như sau: Ông T1 và bà Ả là vợ chồng, ngày 27/4/2022 ông T1 có vay của bà Hằng số tiền 400.000.000 đồng và đến nay chưa trả tiền gốc cho bà H. Giấy hợp đồng thỏa thuận vay tiền ngày 27/4/2022 có chữ ký và viết họ tên người vay Lê Văn T1 do bà Á và ông T cung cấp là chữ ký và chữ viết của ông T1. Do bà Á và ông T giới thiệu bà H cho ông T1 vay tiền nên ông T1 đưa giấy hợp đồng thỏa thuận vay tiền ngày 27/4/2022 có chữ ký và viết họ tên người vay Lê Văn T1 cho bà Á và ông T giữ. Việc bà Á và ông T có trả bà Hằng số tiền 400.000.000 đồng hay không thì ông T1 không biết.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Ả có lời trình bày như sau: Bà Ảnh và ông T1 là vợ chồng, ngày 27/4/2022, ông T1 có vay của bà Hằng số tiền 400.000.000 đồng và chưa trả gốc cho bà H. Bà Ả nghe bà Á và ông T nói lại là đã trả cho bà Hằng số tiền 400.000.000 đồng.

Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An đã tiến hành hòa giải nhưng các đương sự không thỏa thuận được.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 14 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An đã căn cứ các Điều 26, 35,

3

39 và Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 463, 466, 468 Điều 357 của Bộ luật dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H đối với bà Á và ông T.

Buộc bà Á và ông T có nghĩa vụ trả cho bà H 400.000.000 đồng tiền gốc và 198.000.000 đồng tiền lãi. Tổng cộng tiền gốc và tiền lãi là 598.000.000 (năm trăm chín mươi tám triệu) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Á và ông T phải chịu 27.920.000 (hai mươi bảy triệu chín trăm hai mươi nghìn) đồng. Bà H không phải chịu án phí, hoàn trả cho bà H 10.000.000 (mười triệu) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0009053 ngày 11/4/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạnh Hóa.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo; quyền và nghĩa vụ của các đương sự ở giai đoạn thi hành án.

Bản án chưa có hiệu lực pháp luật.

Ngày 24 tháng 02 năm 2025, bị đơn bà Á và ông T kháng cáo toàn bộ bản án, không đồng ý Bản án sơ thẩm đã tuyên, kháng cáo bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Bị đơn bà Á và ông T có lời trình bày như sau: Bà xác định ngày 25/04/2022 có vay 400.000.000 đồng của bà H để đáo hạn Ngân hàng, đến ngày 27/4/2022 bà trả 400.000.000 đồng và tiền lãi 6.000.000 đồng. Tiền bà Á và ông T đã đưa cho bà H và cùng lúc đó bà Á và ông T có giới thiệu ông T1 với bà H vì ông T1 có nhu cầu vay tiền. Cùng thời điểm, bà Á cùng ông T và bà H đến nhà ông T1 và bà H giao 400.000.000 đồng cho ông T1, bà H cung cấp mẫu giấy vay tiền thông tin của bà H in sẵn đưa cho ông T1 ký tên là người vay, sau đó bà Á giữ giấy nợ của ông T1, đối với giấy vay tiền của bà Á do sơ sót nên không lấy lại. Bà Á lý giải lý do giữ giấy vay tiền của ông T1 mà không phải là bà H là do bà Á không để ý.

Nguyên đơn bà H có lời trình bày như sau: Bà H xác định ngày 25/04/2022 bà có cho bà Á và ông T có vay số tiền 400.000.000 đồng, hai bên có ký tên vào biên nhận tiền, thỏa thuận lãi suất theo quy định. Bà không đồng ý lời trình bày của bà Á và ông T đã trả 400.000.000 đồng cho bà ngày 27/4/2022. Bà hoàn toàn không biết ông T1, việc bà Á và ông T cho ông T1 vay 400.000.000 đồng thì có nghĩa vụ yêu cầu ông T1 trả. Bà H trình bày ngày 27/4/2022 bà có đi theo bà Á đến nhà ông T1 và có đưa mẫu giấy vay cho bà Á nhưng việc ký nhận như thế nào là giữa ông T1 và bà Á, bà không giữ giấy vay tiền của ông T1. Bà xác định số tiền 400.000.000 đồng ông T1 trình bày là vay của bà là không đúng, bà

4

không cho ông T1 vay, đây là vay tiền giữa ông T1 và bà Á nên ông T1 có nghĩa vụ trả cho bà Á và ông T khi có yêu cầu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T1 có lời trình bày như sau: Ngày 27/4/2022 ông có vay của bà Hằng số tiền 400.000.000 đồng tại nhà ông, đến cùng có bà Á và ông T, số tiền do bà H đưa. Ông hoàn toàn không biết bà H, do bà Á và ông T giới thiệu. Ông có ký giấy vay tiền và đưa cho bà Á giữ. Sau khi vay ông có trả tiền lãi cho bà H hơn một trăm triệu, được 50 ngày thì ông không còn khả năng thanh toán. Ông đồng ý trả số tiền 400.000.000 đồng cho bà H.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu:

Cấp phúc thẩm thực hiện đúng pháp luật về tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình. Bị đơn bà Á và ông T kháng cáo đúng quy định tại các Điều 273, Điều 276 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đủ điều kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về yêu cầu kháng cáo: Bà Á và ông T thừa nhận ngày 25/4/2022 có vay của bà Hằng số tiền 400.000.000 đồng, ngày 27/4/2022 đã trả cho bà Hằng số tiền trên, giấy vay tiền do bà Á và ông T ký tên, việc trả tiền không có biên nhận. Bà H không thừa nhận có nhận 400.000.000 đồng của bà Á và ông T. Bà Á cung cấp giấy vay tiền của ông T1, thông tin vay của bà H nhưng bên cho vay không thể hiện bà H có ký tên; ngoài lời trình bày của bà Á, ông T và ông T1 thì không có căn cứ nào chứng minh số tiền cho ông T1 vay 400.000.000 đồng là của bà H. Mặt khác, giấy vay tiền của ông T1, bà H không giữ mà bà Á và ông T giữ, còn giấy vay tiền của bà Á và ông T do bà H giữ nên yêu cầu kháng cáo của bà Á và ông T không có căn cứ chấp nhận.

Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Á và ông T. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 14 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Bị đơn bà Á và ông T kháng cáo hợp lệ nên vụ án được xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: Kháng cáo của bị đơn bà Á và ông T về toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm. Căn cứ phạm vi xét xử phúc thẩm quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét nội dung vụ án có liên quan đến kháng cáo.

[3] Xét kháng cáo thấy rằng: Bà H khởi kiện yêu cầu bà Á và ông T trả 400.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi tính từ ngày 27/4/2022 đến ngày 27/01/2025 là 33 tháng với mức lãi suất 1,5%/tháng, thành tiền 198.000.000 đồng. Tổng cộng tiền gốc và tiền lãi bà H yêu cầu bà Á và ông T trả là 598.000.000 đồng. Bà Á và ông T thừa nhận chữ ký tại giấy hợp đồng thỏa thuận vay tiền ngày 27/4/2022.

5

Bà Á và ông T cung cấp giấy hợp đồng thỏa thuận vay tiền ngày 27/4/2022 có chữ ký và viết họ tên người vay Lê Văn T1 thể hiện ông T1 có vay của bà H 400.000.000 đồng được ông T1 thừa nhận nhưng bên cho vay không có chữ ký của bà H và bà H không thừa nhận, không có căn cứ chứng minh số tiền cho ông T1 vay là tiền của bà H; mặt khác bà Á và ông T không có căn cứ để chứng minh đã trả cho bà Hằng số tiền 400.000.000 đồng. Do đó, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H là có căn cứ.

[3.1] Bà H trình bày 400.000.000 đồng ông T1 vay là nợ giữa ông T1 và bà Á, ông T mặc dù ông T1 trình bày là nợ của bà H nhưng bà H không tranh chấp với ông T1 nên sau này ông T1 có nghĩa vụ trả cho bà Á và ông T số tiền 400.000.000 đồng, nếu các bên không thỏa thuận được thì bà Á, ông T có quyền khởi kiện ông T1 bằng một vụ án khác.

[4] Từ nhận định mục [3], không chấp nhận yêu cầu kháng cáo bị đơn bà Á và ông T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 14 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An. Lời đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An có căn cứ được chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Á và ông T phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Nguyễn Thị Á và ông Nguyễn Văn T.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2025/DS-ST ngày 14 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.

Áp dụng các Điều 26, 35, 39, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 463, 466, 468, 357 của Bộ luật dân sự;

Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Thu H đối với bà Nguyễn Thị Á và ông Nguyễn Văn T.

  1. Buộc bà Nguyễn Thị Á và ông Nguyễn Văn T có nghĩa vụ trả cho bà Võ Thị Thu H số tiền là 598.000.000 (năm trăm chín mươi tám triệu) đồng, trong đó bao gồm 400.000.000 (bốn trăm triệu) đồng tiền gốc và 198.000.000 (một trăm chín mươi tám triệu) đồng tiền lãi.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn

6

phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị Á và ông Nguyễn Văn T phải chịu 27.920.000 (hai mươi bảy triệu chín trăm hai mươi nghìn) đồng. Bà Võ Thị Thu H không phải chịu án phí, hoàn trả cho bà Võ Thị Thu H 10.000.000 (mười triệu) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009053 ngày 11/4/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An.
  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị Á và ông Nguyễn Văn T mỗi người phải chịu 300.000 đồng. Khấu trừ 600.000 (sáu trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0003612, 0003613 cùng ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Hóa, tỉnh Long An. (Ông T và bà Á đã nộp xong án phí).
  3. Án xử công khai phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay sau khi tuyên án.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP. HCM;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - TAND huyện Thạnh Hóa;
  • - Chi cục huyện Thạnh Hóa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Bích Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 310/2025/DS-PT ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 310/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Thị Thu H “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” Nguyễn Thị Á, Nguyễn Văn T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger